Danh sách Blog của Tôi

Hiển thị các bài đăng có nhãn mywords. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mywords. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Ergo Proxy (2006) - We have to save ourself




Soundtrack clip của seri này, Kiri, gây ấn tượng mạnh với tôi về giọng hát và phong cách vẽ. Lời thoại tương đối kỳ lạ, khiến người xem không khỏi liên tưởng đến một nội dung có màu sắc tôn giáo. Và họ không nhầm, Ergo Proxy là một anime xây dựng trên cảm quan hiện sinh tôn giáo.

Hiện sinh tôn giáo (hoặc đúng hơn là religious existentialism) thật ra không phải là một thuật ngữ đã có của chủ nghĩa hiện sinh mà chỉ là một từ tôi nghĩ ra để miêu tả tư tưởng của anime này. Không nên nhầm nó với chủ nghĩa hiện sinh thiên chúa giáo (khởi nguồn có lẽ từ xa xưa, bởi Dostoevsky), đây là hai thứ hoàn toàn khác nhau, tuy đều dùng khái niệm "God".

Lấy bối cảnh trái đất ở thời điểm hàng nghìn năm sau, sau một vụ thảm họa khởi nguồn từ một loại tân năng lượng metan-hydrogen, cả địa cầu trở thành một hành tinh chết. Con người khi đó sống trong Dome - những quần thể kiến trúc khép kín với kiến trúc mái vòm, với không khí và ánh sáng nhân tạo. Họ được trợ giúp bởi autoreiv - những robot hình người có khả năng suy nghĩ logic. Câu chuyện bắt đầu với một vụ điều tra : một dịch bệnh do loại virus có tên Cogito (*) gây ra đang đe dọa Romdeau, nó tác động đến các autoreiv và khiến chúng trở nên có ý thức tự thân và không thể điều khiển được nữa. Real, hay Re-l, hay Lil, cháu gái của thị trưởng (the grandfather) đồng thời là một nữ thám tử có mã số 124C41 (one to foresee for one). Đảm nhiệm vụ điều tra này, cô dần khám phá ra những sự thật to lớn đằng sau vẻ yên ổn của Romdeau : sự bưng bít tin tức của bộ an ninh, sự tồn tại của một loại quái vật mang tên Proxy và một kẻ dường như tầm thường nhưng lại dính líu đến tất cả mọi việc, Vincent Law. Rồi ngay cả bản thân cô cũng có vẻ là một mắt xích quan trọng.

Khi xem xong vài tập đầu, tôi nghĩ seri này chắc là lấy nhiều ý tưởng từ 1984 của Orwell : một xã hội khép kín, cô lập, tuyệt đối phi dân chủ, duy trì trật tự bởi sự quản thúc gắt gao mọi thông tin về thế giới bên ngoài. Romdeau là một "thiên đường" (utopia) của thời đại, và ai cũng muốn sống ở đó. Nhưng chỉ những người thuộc tầng lớp model citizen - các công dân kiểu mẫu mới được hưởng đầy đủ các quyền lợi vật chất. Trong thành phố, các băng rôn điện tử luôn sáng dòng tít lớn : "Model citizen should throw things away. Be strong ! " v.v.. - một khẩu hiệu đối lập với chủ nghĩa tiêu dùng tư bản. Các công dân của Romdeau, dù ở thứ hạng nào, luôn luôn được phục dịch, trợ giúp, và giám sát 24/24 bởi một entourage : một autoreiv bất ly thân. Bất cứ hành động và lời nói nào cũng đều bị theo dõi. Như là Bắc triều tiên. Quyền lực tối cao nằm ở ba bộ : bộ an ninh, bộ thông tin và bộ nghiên cứu. Nhưng ngay cả ba bộ này cũng nằm dưới quyền hội đồng quản trị, mà thực ra chỉ gồm một người duy nhất : the grandfather. Từ ngay tập đầu, Real đã nói cô yêu "ông", cô tin lời ông kể rằng không có cuộc sống ở ngoài Romdeau. Tuy vậy cô căm ghét thành phố này, cô luôn có cảm tưởng mọi sự đều là dối trá. Một lời nói dối khổng lồ. Romdeau là một thiên đường ngụy tạo (dys-utopia). Rất giống với 1984.

May mắn là tôi đã nhầm, đây là một thế giới quan hoàn toàn mới, Ergo Proxy có cách triển khai riêng của mình. Đến tập thứ ba, câu chuyện rời bỏ Romdeau và tập trung vào hành trình tái khám phá bản thân của Vincent Law, đi cùng cô bé robot dễ thương đã bị nhiễm Cogito, Pino. Real gia nhập cuộc phiêu lưu không lâu sau đó. Họ dấn thân vào một thế giới cằn cỗi hỗn mang, nơi chỉ có tồn tại mà ít khi có ý nghĩa của sự tồn tại. Hai người dần hiểu ra số phận của họ đã gắn kết sâu sắc với nhau, họ muốn tìm ra sự thật của thế giới và tìm ra ý nghĩa của đời mình. Hành trình ấy sẽ đưa họ hết từ sự cay đắng (despair) này đến sự cay đắng khác.

Ergo Proxy, giống như seri Ghost in the Shell, thuộc về một loại media kén khán giả. Những người chỉ thích xem film để giải trí sẽ không thể tiêu hóa được nội dung phức tạp nhiều tầng nhiều lớp của Ergo Proxy. Phần lớn người xem seri này lần đầu không hiểu được hết câu chuyện, thậm chí là chả hiểu gì. Tôi cũng vậy. Chỉ đến khi xem lại lần thứ hai, đọc lại từng câu nói, ta mới xâu chuỗi tất cả lại được với nhau.

Tôi không muốn giải thích cốt truyện ở đây. Chỉ muốn nói thêm, sau khi đã hiểu hết câu chuyện, về ý nghĩa hiện sinh của nó. Nếu trong hiện sinh vô thần của Sartre, con người không có số phận, không được ai tạo ra, chẳng có mục đích gì, nó được mang đến thế giới này và bỏ lại ở đấy một thời gian, tồn tại có trước ý thức, thì trong Ergo Proxy, cả ba loài người, robot, và Proxy đều được tạo ra bởi Thượng đế - God. Cả ba loài được tạo ra nhằm một mục đích, và khi mục đích đã đạt được, chúng không còn giá trị gì, chúng sẽ tự hủy diệt. Thượng đế đã an bài tất cả những điều này từ đầu. Chúng chỉ là công cụ. Vì thế mà một Proxy đã khóc và nói : nếu vậy, tại sao ngài còn cho chúng ta một linh hồn ? Chúng ta cần một linh hồn để làm gì, nếu nó chỉ mang lại cho chúng ta đau khổ ? Một Proxy khác trả lời : không, Ngài không cho chúng ta linh hồn, linh hồn là một thứ chúng ta đã đạt được bằng cách sống và ý thức. Điều đó cũng đúng với người, và autoreiv. Có linh hồn, cá nhân trở nên cay đắng. Anh ta cay đắng về số phận của mình, về những giới hạn eo hẹp của cuộc đời mình, những sự bất khả của cơ thể anh ta, khoảng thời gian hiện hữu ngắn ngủi trên thế giới vĩnh cửu. Khi mục đích của Thượng đế đã đạt được, sự tồn tại của anh ta trở nên thừa thãi, anh ta trở thành một công cụ quá đát, và Thượng đế đã sắp đặt trước sự tự hủy diệt từ bên trong. Thế bây giờ anh ta có thể làm gì, khi mọi ngả đường đều dẫn tới cái chết ? Nếu anh ta là một autoreiv, anh ta chả có một cơ hội nào. Nếu anh ta là người, anh ta lấp đầy sự trống rỗng của mình bằng cách tàn sát các autoreiv. Nếu anh ta là Proxy, anh ta làm vơi nỗi buồn bằng cách chứng kiến hai loài kia tàn sát lẫn nhau, rồi giết nốt những kẻ còn sót lại. Ngay từ tập một, ta đã chứng kiến một cái bóng nói : "chúng ta không thể đối đầu với họ, nhưng chúng ta có thể trừng phạt họ". Sau này ta sẽ biết người đó là Proxy 1. Sự trừng phạt ở đây chính là sự hủy diệt tất cả. "To punish those who desire God in a godless world" - để trừng phạt những kẻ muốn có một thượng đế trong một thế giới không hề có thượng đế. Hoặc đúng hơn, trong một thế giới mà thượng đế không phải là người ta vẫn tưởng. Thượng đế là một kẻ vô tình, kẻ đã bỏ đi, mang theo tình yêu, để lại trên mặt đất những kẻ chỉ còn trong tâm hồn sự nhớ nhung đối với Ngài và sự vô cảm với những kẻ đồng loại khác. Và sự vô cảm luôn luôn trở thành sự căm thù.

Nói chung thứ hiện sinh của Ergo Proxy rất đen tối. Nếu chỉ thế thì nên gọi đó là một thứ hư vô. Tính chất tích cực của Ergo Proxy thể hiện ra trong tập cuối, đúng như tên gọi Deux ex machina (**) . Tính bi kịch của nó chuyển thành anh hùng ca, nhưng không đúng như tên gọi, không hề bị gượng gạo áp đặt. Vincent Law, Real 124C41, Pino, ba phế vật của ba loài, lại trở thành những anh hùng, những kẻ sống sót, những kẻ đã chiến thắng được nỗi cô đơn. Như lời của Vincent khi từ chối lên cõi vĩnh hằng với Monad :

"Anh xin lỗi. Anh không thể tiếp tục quên lãng. Trách nhiệm và số phận, không còn quan trọng nữa... Đối diện với nhau. Tranh đấu với nhau. Giúp đỡ lẫn nhau. Tựa vào nhau. Chúng ta tiếp tục sống. "

Monad nói : "Có điều gì là tốt đẹp trong hiện thực đó ? Một hiện thực đen tối và lạnh lẽo, một tương lai đầy bất trắc ?"

Vincent : "Nhưng đấy chính là hiện thực của chúng ta."

Và Vincent đã đúng, Monad một mình đi lên cõi vĩnh hằng, chỉ để nhận ra rằng không có cõi vĩnh hằng nào cả, chỉ đơn giản là cái chết.

Cái hay của Ergo Proxy nằm ở chỗ một mặt nó là một câu chuyện thống nhất tròn vẹn từ đầu tới cuối, mặt khác lại mang một ngụ ý sâu sắc về xã hội loài người : sự phân biệt chủng tộc, các cuộc chiến tranh tàn bạo nhân danh chúa, các cuộc chiến tranh còn tàn bạo hơn khi không còn chúa, bản chất độc ác của con người. Nhưng dù bất cứ điều gì xảy ra, chúng ta ít nhất còn quyền hy vọng.

Cái dở của seri này nằm ở chỗ nó có hơi nhiều tính ẩn dụ và ngụ ngôn. Thật ra khó làm về đề tài tôn giáo mà không hình tượng hóa. Dù sao thì tôi vẫn thích Ergo Proxy hơn một anime tương tự và rất nổi tiếng khác là Neon Genesis Evangelion với mật độ ẩn dụ kinh khủng dày đặc. So với Ghost in the Shell : Stand alone complex thì chưa bằng.  Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu một ngày nào đó tôi được xem một anime ngang tầm với Gits : Stand alone complex.

(*): lấy từ câu Cogito, ergo sum - I think, therefore I am. Ergo trong Ergo Proxy cũng lấy từ câu này.
(**): god out of a machine, thuật ngữ chỉ sự thay đổi đột ngột ở phần cuối một câu chuyện bằng cách đưa vào những yếu tố mới và bất hợp lý.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Inception (2010) - Mind game without substance goes only so far

(3/11/10)

Very similar to Mind Game (a japanese anime), and a lot weaker. Impressive for the first view, but just like The Dark Knight, Nolan's Inception isn't that good when looked closely.



Bây giờ mới xem phim này, kể ra hơi muộn. Sự thật là gần đây việc đi xem rạp không khiến tôi thấy vui thú gì. Có thể do xem ở nhà, dù muộn so với phong trào, thoải mái hơn hẳn : tôi có thể vừa xem vừa quấn chăn và uống các loại thức uống nóng. Tôi có thể bỏ ngay một phim dở, chuyển sang phim khác. Hoặc do tôi phần nào đã quá quen với phim tiếng anh và phụ đề tiếng anh, không muốn xem tiếng việt nữa. Và có lẽ, là do bây giờ phim được mông má quảng cáo quá nhiều, quá giỏi, toàn bom tấn, siêu phẩm gì đó, nhưng thực tế thì sao ? Tôi thấy chả đáng để bỏ ra hơn 100k đi xem ngay khi trình chiếu lần đầu. Avatar chẳng hạn, ầm ĩ như thế mà chả gây ấn tượng gì với tôi, chỉ thấy giống một cái game nuột nà. The dark knight, xem lần đầu thấy rất hay, rồi sau đó suy nghĩ kỹ, thì không có gì sâu sắc đọng lại. Giờ là Inception, quay đẹp, kỹ xảo thú vị, nhưng ấn tượng nó gây cho tôi còn kém cả The dark knight. Xem được hơn nửa tiếng, tôi đã hết tò mò. Bề ngoài Inception là một bộ phim sâu sắc, thông minh, một smart film. Nhưng có thật vậy không ? Một bộ phim thông minh thì lại thường không thu hút đại đa số khán giả. Lợi nhuận và nghệ thuật luôn đối nghịch nhau. Cái có thể bán được nhiều vé, chỉ là những bộ phim có vẻ thông minh. Tại sao có thể kết luận như vậy ?

Thứ nhất, chính là tính original của film. Những người ít đọc và xem có thể nghĩ rằng Christopher Nolan đã cho ra đời một bộ phim hoàn toàn original. Thực tế ngược lại. Inception dựa trên một triết lý : cuộc đời chính là một giấc mộng, hiện thực và mộng ảo đôi khi hòa quyện vào nhau, không thể phân biệt được thật giả. Điều này đã được nói đến vô số lần trong nhiều nền văn hóa khác nhau. Ví dụ :

Giả bảo là chân, chân cũng giả
Không làm ra có, có rồi không.

Đây là câu đối trong phần mở đầu của Hồng Lâu Mộng, được viết cuối thế kỷ 18. Inception nói đến khái niệm một giấc mộng ở bên trong một giấc mộng, câu này nghe đã quá quen đối với những người thích văn hóa nhật như tôi. Nhiều giấc mơ lồng vào nhau, hay reality's loop, không phải là cái gì mới, Marquez đã từng viết về cảm giác này trong một truyện ngắn. Và nhiều tác giả khác nữa. Thậm chí tôi cũng đã viết về nó, vì tôi đã từng mơ kiểu này, một kinh nghiệm thật khủng khiếp. Limbo, trạng thái chìm đắm trong vô thức, gần như vĩnh viễn, tạo ra bởi sự chia nhỏ vô tận một khoảng thời gian hữu hạn trong thực tế (thời gian nằm và mơ), không nói đâu xa, chính là trạng thái cuối cùng của nhân vật chính trong truyện Xứ sở tàn bạo diệu kỳ và nơi tận cùng thế giới của Murakami. Nhân vật đó cũng đứng trước sự đấu tranh dai dẳng giữa hai việc ở lại xứ sở (limbo) đó và tỉnh lại, giống hệt như các nhân vật trong Inception.

Nếu không tính văn học thì sao ? Hãy chỉ nói về điện ảnh thôi. Tôi thấy Inception quá giống Mind Game. Cũng là những giấc mơ ở bên trong những giấc mơ, chúng phân nhánh, đôi lúc giao thoa, phức tạp, khó, hoặc không thể nhận biết. Cái khác là Mind Game có tính hệ thống cao hơn, khi kết thúc phim, người ta có thể dựa trên những chi tiết trong phim mà gây dựng lại một mạch hiện thực chính xác, logic, không có lỗ hổng. Inception không được như thế. Tôi ghét những tác phẩm che dấu kết cấu yếu bằng vẻ ngoài đa nghĩa, hiểu thế nào cũng được. Mà chính kết cấu không tì vết mới tạo nên chiều sâu, chứ chả phải mấy cái kỹ xảo uốn cong thành phố Pari.

Nếu nói về sub-conscious, nhất là vô thức tập thể, sự kết nối vô thức, và maze, hay mê cung của vô thức, không thể không nhắc đến Ghost in the Shell (GitS). Đứng cạnh GitS, hệ thống những tưởng tượng của Inception trở nên lỏng lẻo, dễ bị nhìn thấu. Như là nghịch lý thỏ và rùa chạy đua đứng cạnh nghịch lý con mèo của Schroedinger. Viễn tưởng của GitS nằm ở một tầm cao khác.

Thứ hai, Inception có quá nhiều điểm vô lý. Khi xem lần thứ nhất, ai nấy đều bị khung cảnh và màu sắc trong phim hớp hồn, sau đó lại bị những tranh luận và thắc mắc về những chi tiết nhỏ nhặt trong phim cuốn hút nên không để ý. Thật ra chỉ cần tỉnh táo lùi lại một chút, nhìn Inception một cách tổng quan, ta sẽ thấy sự vô lý đầy rẫy :

-Các định luật vật lý áp dụng được trong mơ. Ví dụ súng ống bắn nhau, mìn nổ, người đánh nhau, lực hút của trái đất v.v... Hơi buồn cười.

-Mơ vốn là một kinh nghiệm phi lý tính. Tôi không thấy nhân vật nào trong phim này mọc cánh bay hoặc dùng sức mạnh siêu nhiên cả, mà tôi thì suốt ngày mơ thế. Ai đó có thể nói rằng nếu làm vậy thì thằng target sẽ biết mình đang nằm mơ, nhưng thật ra có rất nhiều lúc mà thằng target nó đâu có nhìn, tội gì không dùng chui ?

-5 phút thực bằng 1 giờ mơ. Cứ cho là đúng đi, nếu não khi ngủ hoạt động nhanh hơn. Nhưng làm thế quái nào mà 5 phút mơ level 1 bằng 1 giờ mơ level 2. Đến đây thì rõ là bịa linh tinh, phi logic.

-Inception đề cao sức mạnh của giấc mơ và vô thức quá đáng, giống như Freud.

-Hack luôn khó hơn lập firewall. Tội phạm giấc mơ nguy hiểm như thế, mà công nghệ chống lại nó hầu như không có, hoặc yếu ớt. Trong GitS, nếu mà cứ gặp ai cũng chọc một đầu dây của hub vào đầu họ như trong Inception, có ngày cả vô thức lẫn ý thức của anh bị firewall của người ta đốt chết luôn.

-Nhiều người thích đời sống trong mơ hơn thực tế, dù biết mình đang mơ. Rõ vớ vẩn. Đây là một cái concept được khai thác nhiều, sự lựa chọn giữa thế giới thực tế màu xám và thế giới phi thực màu hồng. Thế giới phi thực được xây dựng bằng nhiều cách khác nhau trong các tác phẩm khác nhau. Như trong The Matrix, thì thế giới phi thực là hiện thực ảo tạo ra bởi máy móc, nó cấy vào đầu con người. Con người sống trong đó trải nghiệm những thực tế hoàn toàn tương tự với hiện thực. Họ có vị giác, xúc giác, khứu giác, họ có thể có cực khoái khi làm tình chả khác gì trong hiện thực, bởi máy móc thực hiện điều đó cho họ, kết nối cho họ. Họ vẫn có tương tác xã hội với các cá nhân khác trong một hiện thực ảo mang tính toàn cầu. Bởi vậy mới có những người chọn ở lại trong matrix. Inception dùng giấc mơ đơn lẻ của một hoặc vài người làm thế giới phi thực. Mà giấc mơ thì chỉ có hình ảnh, rất ít mùi vị và âm thanh, hầu như không có xúc giác. Không có các kinh nghiệm vật lý, thì đương nhiên cũng không có các cảm giác vật chất, và dẫn đến không có hạnh phúc. Có thể phân tích sâu về điều này, nhưng tôi nghĩ không cần thiết. Chả ai biết mình đang mơ (theo nghĩa đen) mà lại chọn không tỉnh lại cả. Thế giới trong mơ không đủ điều kiện để dùng như một thế giới phi thực màu hồng. Không nói đến chuyện thực giả, thì nó vẫn không làm người ta đủ sướng.

-------

Dù được hô hào quá xa giá trị thực, Inception vẫn là một phim hay, chiều khán giả, xem đã mắt, thiết kế khung cảnh khá độc đáo, cốt truyện bề ngoài phức tạp bên trong đơn giản, một phim giải trí đơn thuần. Tôi không nghĩ sẽ xem lại lần hai, nếu có thì chỉ để ngắm nàng Mal (Marion Cotillard) mà thôi :





---

imdb : 9.1, quá cao.



Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011

Fight Club (1999) - You can't win yet.

I was swimmin' in the Caribbean
Animals were hiding behind the rocks
Except the little fish
But they told me, he swears
Tryin' to talk to me, coy koi.

Where is my mind ?

With your feet in the air and your head on the ground
Try this trick and spin it, yeah
Your head will collapse
If there's nothing in it
And you'll ask yourself

Where is my mind ?
Where is my mind ?
Where is my mind ?

Một film tôi đã xem nhiều lần. Và là film duy nhất mà tôi từng dán poster lên tường hồi còn ở nước ngoài. Chính là cái hình poster dưới đây, với Edward Norton, một trong những diễn viên nam thông minh nhất Hollywood và Brad Pitt, xuất sắc vượt xa mức diễn thông thường của anh, cộng thêm một câu quote trong film : I want you to hit me as hard as you can.


Năm nay, 2010, dân vn đã giàu hơn trước kia rất nhiều. Thoát khỏi tâm lý tiểu nông, người ta không chỉ muốn một ngôi nhà rộng, mà đồ đạc trong đó còn phải đẹp, và có phong cách. Các hãng đồ nội thất ăn nên làm ra. Bản thân tôi năm ngoái đã từng có thời gian đi thăm một loạt các cửa hàng nội thất lớn ở hà nội : An dương, Nhà đẹp, Nhà xinh, Hoàng tử, Klassy v..v... Có thể thấy phong cách trọc phú mới phất vẫn chiếm vai trò chủ đạo, tuy nhiên cuối cùng tôi cũng chọn được một hãng có style tương đối được, không quá nặng nề, quá màu mè hoặc quá già, đó là SB furniture. Hãng đồ gỗ Thái này mới chỉ có một đại lý nhỏ ở hà nội, nên có ít hàng, phải đặt trước khá lâu. Tôi, và nhiều người khác, đều cay cú rằng tại sao IKEA, một hãng đồ nội thất nổi tiếng của Thụy Điển, lại chưa thèm vào vn. Tôi còn nhớ hồi ở Đức, cứ lần nào đi siêu thị nội thất là tôi lại kinh ngạc và thèm khát vì đồ gỗ phương tây vừa đẹp nuột nà vừa rẻ hều. Và tôi biết đồ IKEA còn đẹp hơn đồ gỗ Đức. Được bày biện và trang trí nhà mình bằng đồ IKEA là ước mơ của nhiều người vn hiện nay.

Fight Club được làm vào mười một năm trước. Nhân vật chính trong film, Người dẫn chuyện (The Narrator do Edward Norton thủ vai) là một kẻ nghiện đồ IKEA.

Narrator : Like so many others, I had become a slave to the IKEA nesting instinct... If I saw something clever, like coffee table in the shape of a yin and yang, I had to have it. The Klipske personal office unit, the Hovertrekke home exer-bike. Or the Johannshamnh sofa with the Strinne green stripe pattern. Even the Rislampa wire lamps of environmentally-friendly unbleached paper.
Narrator : I would flip through catalogs and wonder "What kind of dining set defines me as a person?"
Narrator : We used to read pornography. Now it was the Horchow Collection.

Hoặc đã từng là một kẻ nghiện tiêu dùng. Không có kẻ say nào tự nhận mình say. Cái thời điểm anh ta tự thấy mình là một nô lệ, anh ta đã bước được một chân ra khỏi nhà tù. Khi ấy, Người dẫn chuyện gặp một kẻ xa lạ, thú vị và thông minh : Tyler Durden (do Brad Pitt thủ vai), kẻ sẽ thay đổi cuộc đời anh ta.

Tyler Durden là một người anti society, anti-consumerism, khi căn hộ với bộ sưu tập đồ IKEA xiết bao yêu mến của Người dẫn chuyện (Narra) bị rò ga rồi nổ tung, Narra rất depressed. Anh tâm sự :

Narra : When you buy furniture, you tell yourself, that's it. That's the last sofa I'm gonna need. Whatever else happens, I've got the sofa problem handled. I had it all. I had a stereo that was very decent. A wardrobe that was getting very respectable. I was close to being complete.
Tyler : Shit, man. Now it's all gone. Do you know what a duvet is?
Tyler : Just a blanket. Why do guys like you and I know what a duvet is? Is this essential to our survival in the hunter-gatherer sense of the word?
Narra : No.
Tyler : What are we, then?
Narra : Consumers.

Phải, chúng ta đơn thuần chỉ là những kẻ tiêu dùng.

Tyler nói tiếp : Right. We're consumers. We are by-products of a lifestyle obsession. Murder, crime, poverty. These things don't concern me. What concerns me are celebrity magazines, television with 500 channels, some guy's name on my underwear. Rogaine. Viagra. Olestra. Martha Stewart. Fuck Martha Stewart. Martha's polishes on the brass of the Titanic. It's all going down, man. So fuck off with your sofa units and Strinne green stripe patterns. I say never be complete. I say stop being perfect. I say let's evolve.

Sau cuộc trò chuyện ở trên không lâu, Tyler bảo Narra đánh mình. Narra đấm Tyler một cái, rồi Tyler trả đòn. Họ đánh nhau, thâm tím mặt mày. Một điều lạ kỳ : sau đó họ cảm thấy rất tốt, gần như là hạnh phúc. Cái cảm giác đó có sức lây lan, nhiều người gia nhập, và thế là Fight Club hình thành. Fight Club, bề ngoài là một dạng câu lạc bộ đấm đá dành cho đàn ông, thật ra có một ý nghĩa sâu xa hơn. Mục đích của nó không phải là bạo lực, không phải ai thắng ai bại, mà là để trải nghiệm những giây phút đi tìm nam tính, đi tìm cái tôi của mình, đi tìm lại cái sức mạnh của một thế hệ những đứa con trai của những người cha vắng mặt tám tiếng một ngày, phải lớn lên trong vòng tay mềm nhão của đàn bà.

Tyler : I see in Fight Club the strongest and smartest men who've ever lived. I see all this potential. And I see it squandered. Goddamn it, an entire generation pumping gas. Waiting tables. Slaves with white collars. Advertising has us chasing cars and clothes, working jobs we hate so we can buy shit we don't need. We're the middle children of history. No purpose or place. We have no Great War. No Great Depression. Our great war is a spiritual war. Our great depression is our lives. We've all been raised on television to believe that one day we'd be millionaires and movie gods and rock stars. But we won't. We're slowly learning that fact. And we're very, very pissed off.

You are not your job.
You're not how much money you have in the bank.
You're not the car you drive.
You're not the contents of your wallet.
You're not your fucking khakis.

You are the all-singing, all-dancing crap of the world.

Phải, tất cả những sự thật đó đều đúng. Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tiêu dùng, con người thu giảm lại thành những mẫu hình "docile consume machines" trong một thực tại ám ảnh, ảo tưởng về sự đầy đủ và hạnh phúc. Vấn đề ở chỗ con người vốn phức tạp hơn một cái máy, và tuy đã bị đần độn hóa triệt để, nó vẫn biết suy nghĩ. Khi nó suy tư, nó thấy thật ra nó không hạnh phúc. Nó không muốn là một cái máy làm việc 8h, nó muốn tìm thấy cái tôi không chỉ ở trong những nhãn hiệu cao cấp như Louis Vuitton, Hermes, Gucci, Chanel, Iphone, Ipad, Macbook, Audi, Mercedes, BMW v.v... Đây là lý do mà ở đầu film, Narra mất ngủ triền miên. Thời gian trôi đi, xã hội tiêu dùng đã chỉ còn là ánh hào quang thiên giới tuyệt vời với những tầng lớp dân nghèo, những quốc gia chưa phát triển. Những cá nhân thông minh hơn từ lâu đã hiểu tiêu dùng và tình yêu là hai điều đối lập. Nhưng làm thế nào để "evolve" ? Hegel nói cái hợp lý là cái có sự sống. Ngược lại, cái có sự sống là cái hợp lý. Chủ nghĩa tiêu dùng (consumerism), có thể nói là ra đời vào khoảng đầu thế kỷ 20, vẫn tồn tại mạnh mẽ. Nó sống tốt, bởi nó hợp lý. Hay chính xác hơn, nó vẫn tồn tại vì nó là hệ thống hợp lý nhất hiện nay. Nó có thể là địa ngục, nhưng ra khỏi địa ngục đó, chẳng phải là một vấn đề đơn giản. Để ra khỏi nó, tôi nghĩ, loài người cần có cả một triết học mới, một hệ thống quan điểm và giá trị mới, và cần nhiều thời gian để thay đổi. Đây không phải là chuyện một phong trào dưới dạng câu lạc bộ có thể giải quyết.

Tyler Durden là một kẻ phản kháng thông minh. Nhưng sự thông minh đó có đủ không ? Không, sức của Tyler chỉ đến mức mang lại một chút giải thoát ban đêm cho một nhóm bạn mà thôi. Đỉnh cao của những hành động có ích của Tyler, đấy là ảnh hưởng với anh bạn shopkeeper người châu á. Tyler dí súng vào đầu, làm ra vẻ sắp giết anh chàng này, khiến anh ta tin chắc mình sắp chết, sợ đến nỗi gần tè ra cả quần, rồi hỏi thực ra mày có muốn làm shopkeeper không ? Không. Hồi còn trẻ mày học ngành gì ? Bác sĩ thú y. Tại sao ? Yêu động vật. Tyler lấy một số giấy tờ của anh chàng và nói nếu mày không bỏ việc và trong 6 tuần không trở thành bác sĩ thú y thì tao sẽ giết, tao đã biết nhà mày ở đâu. Anh kia sau đó được thả đi, Tyler nói với Narra : Tomorrow will be the most beautiful day of Raymond K Hessel's life. His breakfast will taste better than any meal you and I have ever tasted. Câu này làm tôi nhớ đến truyện ngắn Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber của Hemingway, người mà Tyler muốn "fight". Con người với sức ì của mình, với các giác quan đã bị mài mòn, không thấy được những cái mình có, như thời gian và số phận. Tyler như một nguồn lực ở bên ngoài tác động vào, giúp họ trong phút chốc trải nghiệm sự kết thúc, từ vực thẳm đó mà cảm nhận lại được sinh mạng và hy vọng.

Tyler có tiếp tục "evolve" không ? Có, Fight Club nhờ ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần các thành viên mà phát triển nhanh chóng ra khắp các thành phố khác. Khi đã đạt đến một sự mở rộng nhất định, điều tất yếu xảy ra. Tyler là một kẻ vô chính phủ (Arnachism) và theo chủ nghĩa hư vô (Nihilism) hơi ngả sang chủ nghĩa bi quan (pessimism). Anh ta thường cổ động cho xu hướng tự phá hủy "self destruction", "embrace the pain" :

Tyler : Our fathers were our models for God. If our fathers bailed, what does that tell you about God? Listen to me. You have to consider the possibility that God does not like you. He never wanted you. In all probability, He hates you. This is not the worst thing that can happen. We don't need Him!
Narra : We don't, I agree!
Tyler : Fuck damnation, man, fuck redemption. We are God's unwanted children? So be it!

...

Tyler : Oh, self-improvement is masturbation. Now, self-destruction... Fight Club wasn't about winning or losing. It wasn't about words. When the fight was over, nothing was solved. But nothing mattered.

Tyler làm Fight Club trở thành một dạng tổ chức khủng bố hạng nhẹ có tên Project Mayhem. Đối tượng khủng bố không gì khác hơn là hệ thống vật chất của Consumerism.Tất nhiên, trong tầm vóc vĩ mô như vậy, triết lý của Tyler quá đơn giản và trẻ con. Sự thất bại của Project Mayhem là không tránh khỏi. Nửa phần sau của Fight Club đã miêu tả rõ nét sự vô nghĩa của những nổi loạn kiểu này.

Film kết thúc với hình ảnh Narra nắm tay Marla (Helena Bonham Carter, có lẽ cũng là vai diễn xuất sắc nhất của cô) đứng nhìn cả một khu thương mại cao tầng sụp đổ, thể hiện cái khát vọng phá hủy và xây dựng lại của Tyler, cái vô nghĩa của việc đó, và điều còn lại duy nhất và có nghĩa, như người ta vẫn nói đã cả ngàn lần, chỉ là tình yêu.

----------

Fight Club, theo tôi, là film xuất sắc nhất của đạo diễn David Fincher. Ông còn có hai film khác tương đối được, đó là Se7en, kinh điển và The Curious Case of Benjamin Button, kém hơn. Fight Club có những khía cạnh phức tạp và phân mảnh được xử lý thông minh bằng cách sử dụng kiểu dẫn chuyện phi tuyến tiết tấu nhanh. Giọng dẫn chuyện của Edward Norton là xương sườn của cả bộ phim. Cả Brad Pitt và Helena đều diễn xuất thần trong film này, hơn hẳn các film khác hai người đóng. Tôi không thể hiểu nổi tại sao Edward Norton không được Oscar cho vai Narrator, đây chắc chắn là vai hay nhất anh từng đóng, và tôi cũng không thể nghĩ ra bất cứ một người nào khác có khả năng thể hiện cùng một lúc và tinh tế những biểu đạt trái ngược và độc đáo như Edward Norton. Thậm chí anh không được đề cử. Oscar năm 1999 cho nam chính rơi vào tay Kevin Spacey của American Beauty, một film tôi cũng rất thích, nhưng tôi nghĩ kém Fight Club một chút.

Fight Club không phải là dạng film có thể hiểu hết trong một lần xem. Giống như một tiểu thuyết hay, nó để lại nhiều rung động trong người đọc. Nó bắt người ta phải suy ngẫm về nó, và quan trọng hơn, suy ngẫm về cuộc đời mình. Đây chính là dấu hiệu của một tác phẩm nghệ thuật lớn.

----------

imdb : 8.8



Art school confidential - Where is the line between art and bullshit ?



Ở entry trước có nhắc đến Kitsch, làm tôi hồi tưởng lại một số các bạn tôi đã từng biết. Với lại gần đây tôi cũng có đọc facebook của một số art chick như em X. hay em C., soulmate của một ai đó. Nếu Kitsch là những gì thuộc về nghệ thuật, mang tính trang sức, bề ngoài khoác lên một cái vỏ trống rỗng thiếu chiều sâu (substance) thì các bạn đó có thể là gọi bằng Kitsch-man hoặc Kitsch-woman.

Ví dụ bây giờ tôi có một bạn nam, tuổi từ 20-26, ở hà nội. Tôi muốn biến bạn ấy thành một thực thể thú vị giàu tính nghệ thuật một cách nhanh nhất. Vậy làm thế nào ? Câu trả lời đương nhiên là tạo ra một stereotype.

Đầu tiên, là (hoặc đã từng là) một sinh viên, bạn ấy cần một ngành phù hợp. Các ngành thiên về khối A thì đương nhiên không có tính nghệ thuật, còn các ngành thiên về nghệ thuật dặt dẹo quá thì lại làm cho nam tính của bạn bị ảnh hưởng, nó phải là một cái gì ở giữa, có rắn rỏi nhưng cũng có bay bổng, có logic nhưng vẫn đầy cảm xúc. Hẳn nó phải là kiến trúc. Fine art hẳn hoi. Cách đây năm mười năm, hãy để bạn làm thơ, không cần phải có vần, tham gia forum. Còn nếu gần hiện tại hơn, bạn hãy mua một cái máy ảnh loại xịn, học lấy vài thủ thuật chỉnh sửa, chụp thật nhiều up lên flickr và facebook. Những thứ đi kèm có thể tham khảo : guitar đệm hát, xe cào cào, phượt, nghe rock, khăn quấn đầu, portrait đen trắng đang hút thuốc, tathy, back up bởi Suối nguồn. Mission accomplished. Không có lý do gì để bạn nam này không cua được vài em gái teen xinh tươi trong một tập thể những người đồng điệu. Có thể đặt tên cho stereotype ở trên là Archiboy. (Nếu cần tìm cứ lên facebook, các bạn ý link với nhau cả.)

Trong Art school confidential, Jerome là một cậu bé có năng khiếu hội họa. Và còn trinh. Cậu mơ ước trở thành họa sĩ vĩ đại nhất thế kỷ 21, có vô số đàn bà đẹp vây quanh. Cậu muốn thành một Picasso thứ hai. Cậu quyết đến trường Strathmore với ước mơ ấy.

Thực tế xem ra không giống tưởng tượng lắm. Ngay từ buổi vẽ mẫu đầu tiên, cậu bạn ngồi cạnh của Jerome đã nhận xét : "Why are the people in these freshman classes exactly the same every year ?" Nhìn một cái, anh ta có thể xếp loại các stereotype đó ngay lập tức : The vegan holy man ; The boring blowhard ; The angry lesbian ; Kiss-ass ; Mom v.v... Bản thân anh bạn này không hơn gì, anh ta là The sarcastic tongue (ST), loại người có óc nhận xét sắc bén, mồm miệng đầy mai mỉa nhưng chả làm ra được bất cứ cái gì có giá trị. Loại thành danh nhờ chửi này có rất nhiều ở tathy. Hay như đạo diễn LH chẳng hạn.

Jerome thì sao ? ST nhận ra ngay Jerome là loại giai tân tuyệt vọng ở trường cấp 3, tìm đến art school để "bone your way through an endless lineup of art skanks." - để chơi vô số các em art chick xinh gái rẻ tiền. Ví dụ như em ở ảnh dưới. Stereotype : Beatnik. (tên một trào lưu biến tướng tha hóa của thế hệ Beat.)



Jerome hầu như chả phải làm gì để đến được giường của em này. Có điều em ý trong một phút khóc cười gào thay đổi ba lần không biết đằng nào mà lần nên cậu đành chịu thua. Jerome thử thêm vài em khác nữa và rút ra kết luận : "Forget it. They're all insane." Cậu dành hết tâm sức theo đuổi Audrey, stereo type : The dream girl. Đây là một cô bé xinh đẹp, con một họa sĩ nổi tiếng. Cô hành nghề người mẫu vẽ, tin rằng bố mình bất tài và nên bỏ bút từ cách đây 30 năm. Cô đã từng có vô số bạn trai, và cả lesbian. Film cố tình khắc họa cô là một cô bé không có óc chỉ biết chạy theo các anh hot artists, tuy nhiên tôi phải nói rằng tôi thấy cô vẫn thông minh và xử sự tử tế hơn chán vạn cô gái việt nam tôi đã gặp.

Chuyện Jerome đi nghe một buổi thảo luận của Bushmiller, một sinh viên đã tốt nghiệp giờ nổi tiếng, rất thú vị. Hội trường hỏi Bushmiller nhiều câu, anh ta trả lời vớ vẩn rồi nói : tôi chả hiểu các bạn hỏi như thế để làm gì. Đáng ra bạn chỉ nên hỏi một câu thôi : làm thế nào để các bạn trở thành như tôi, một nghệ sĩ lớn ? Câu trả lời : đơn giản hãy là một nghệ sĩ lớn. Chả có gì để học hay để dạy trong chuyện này cả. Đừng có phí phạm thời gian ở trường nữa. Lol. Quá đúng. Chỉ cần đọc những thứ mà các em gái học chuyên Văn hồi xưa viết ra, ta cũng có thể thấy được phần nào. Bởi...

Nghệ thuật là không thể dạy được.

Nhưng học phí đóng rồi, Jerome vẫn phải ngồi học thôi. Những buổi học của Jerome luôn làm tôi phì cười. Vấn đề là : nghệ thuật mang tính chủ quan (subjective) nên hầu như người ta có thể nói bất kì điều gì về nó. Hãy hình dung một cái lớp khoảng trên chục người, tính luôn cả thầy giáo, tất cả đều là Stereotype, zero tài năng và một cái tôi to đùng cách mạng. Cuộc thảo luận trong lớp, sự va chạm của các cái tôi ấy, liệu có mang nổi một gram sự thật nào không ? Trong lớp, Jerome có thể coi là người bình thường nhất và ít giả tạo nhất, vì thế cậu bé dở khóc dở cười trước những phản ứng của các bạn học. Cậu không chịu nổi những thứ bôi bác trên giấy, trừu tượng, phá cách một cách ngu si được miêu tả toàn bằng các mỹ từ triết học. Rất nhanh chóng, Jerome trở thành một Stereotype khác : The class's doucebag, con chiên ghẻ trong lớp, bị tất cả mọi người ghét bỏ.

Cậu tìm đến thầy giáo với hy vọng soi sáng dẫn đường. Ngờ đâu thầy giáo cũng chỉ là một kẻ thất bại vô tích sự, cho những lời khuyên chí lý chí tình làm thế nào để đi trên con đường nghệ thuật, chỉ tội là thầy mất những 25 năm để vẽ ra một bộ tranh, mỗi tranh là một hình tam giác con con, cái chổng lên cái chổng xuống. Thầy bảo Jerome : đâu phải ai cũng như thầy và em, họ làm sao hiểu nổi tranh thầy. Vì thế thầy cứ bị từ chối triển lãm tranh hết lần này đến lần khác.

Vì lạc lõng, Jerome nhanh chóng tha hóa trong môi trường đó. Cậu bắt đầu hút thuốc, uống rượu, trầm cảm. Cậu thấy mình dần căm ghét con người xung quanh. Một phần tư cuối film, câu chuyện trở nên quá đen tối, Kitsch, thứ nghệ thuật vị lợi nhuận con đẻ của truyền thông đa phương tiện được khắc họa như một tình trạng hiển nhiên thống trị đời sống tinh thần xã hội, một cách phát triển mà tôi nghĩ không hợp lắm và hơi quá bi quan, vì vậy sẽ không đề cập tới ở đây.

Art school confidential được làm với mục đích chủ yếu là châm biếm thế giới đại học mỹ thuật nói riêng và các cộng đồng liên quan đến nghệ thuật nói chung. Dàn diễn viên hùng hậu, lời thoại cay độc, tinh tế, chứa đựng nhiều sự thật về thế giới của các "tài năng nghệ thuật". Theo tôi, đây là một phim rất đáng xem.

-------

imdb : 6.3, chủ yếu do phần cuối của film.



Pierrot le fou (1963) - Sometimes, life is beautiful, but it will always be sad.

Một trong những film hay nhất của trào lưu avant-garde (*) cinema nói chung và French New Wave (**) nói riêng.



Ấn tượng đầu tiên của tôi về Pierrot le fou : đây rõ ràng là một phim pháp. Phim được quay với màn ảnh rất rộng, phim dài, tiết tấu chậm lại càng thấy dài hơn và khuôn hình thường luôn ngập tràn ánh nắng. Lại thêm một film rất không Hollywood với những góc quay được giữ rất lâu, cách quay đặc trưng của châu Âu, sự chậm rãi trong từng chi tiết làm nhiều lúc phim cứ như những bức tranh nối tiếp nhau. Lời dẫn chuyện song song của giọng nam và giọng nữ xen kẽ như một bài thơ hay đúng hơn là một điệu nhạc chậm rãi nên thơ.

Đạo diễn Jean-Luc Godard muốn đây là một bộ phim của các mảnh nhỏ, đẹp của nghệ thuật hơn là một kết cấu. Một bộ phim gần với một bức tranh hoặc một bản nhạc hơn là một tiểu thuyết. Vì thế bản thân nội dung hay nói đúng hơn là tuyến truyện của film không có vai trò quá quan trọng. Khởi đầu với thành phố, những cảnh quay trong nhà, những buổi tối, ta thấy hai nhân vật chính : Marianne và Ferdinand (hay Pierrot như cách cô vẫn gọi) sống trong một cảm thức tù đọng, ớn ngán xã hội trưởng giả tư bản. Pierrot đã có vợ con, anh đọc sách rất nhiều, có thể thấy sự cô đơn của anh ngay trong cảnh gần đầu film : anh quote cho con gái nghe về cuộc đời của họa sĩ Velazquez anh đang đọc trong sách, thứ mà cô bé làm sao hiểu nổi :

"The world he lives in is a sad one. A degenerate king, sickly infantes, idiots, dwarfs, cripples, clownish freaks dressed as princes, whose job was laugh as themselves, and amuse a court that lives outside the law, caught in a web of etiquette, plot and lies, bound by the confessional and their own remorse. Outside the gates, the auto-da-fé and silence... Listen to this, little girl. A spirit of nostalgia prevails, yet we see none of the ugliness or sadness, none of the gloom or cruelty of this crushed childhood. Velázquez is the painter of the evening, of open spaces and of silence, even when he paints in broad daylight or in a closed room, even with the din of battle or of the hunt in his ears. As they seldom went out during the day, when everything was drowned in torrid sunshine, spanish painters communed with the evening. Beautiful, isn't it, little girl?"

Velazquez thì có thể giao cảm với những buổi tối, nhưng Pierrot thì không. Anh đến các buổi "chiêu đãi" của giới nghệ sĩ và cảm thấy tất cả những người xung quanh đều đần độn đến nỗi anh bắt đầu nghi ngờ ngay cả trí tuệ của bản thân mình. Anh có thể làm gì ? Còn gì để làm, ngoài việc chạy thật xa với Marianne ?

Marianne's voice : A Season in Hell.
Pierrot's voice : Love must be reinvented.
Marianne's voice : Real life lies elsewhere.
Marianne's voice : Countless centuries fled,
Marianne's voice : into the distance, like so many storms...
Pierrot's voice : I held her close,
Pierrot's voice : and began to cry...
Marianne's voice : It was our first,
Marianne's voice : our only dream.

Từ đó, cách quay của film thay đổi. Khung hình không bao giờ thiếu ánh sáng nữa, cũng như cuộc sống trên con đường trốn chạy xuống miền Nam nước Pháp của đôi tình nhân giờ đã có tự do. "Life may be sad, but it's always beautiful." Không chỉ là một cuộc trốn chạy khỏi nhà tù cuộc sống thường nhật, mà hơn thế, hai nhân vật của chúng ta còn từ chối cả những thành tố cơ bản của đời sống đó, ví như sự sở hữu. Họ đốt tiền, theo nghĩa đen, họ quẳng vali tiền xuống biển để sau đó đi mua vui cho khách du lịch kiếm vài đồng, họ bắn cháy xe ô tô để đi bộ vượt qua những ngọn đồi, những đồng cỏ xanh mướt, những trang trại nặng trĩu cam và táo, họ ăn cắp và lại phi xuống biển một cái xe bạc triệu khác, rồi sau đó đi chân trần trên bờ biển, hoàn toàn không nghĩ đến những giá trị vật chất, không thèm sợ hãi ngày mai.

Tôi chưa bao giờ thích các phụ nữ "đàn bà", đàn bà ở đây hiểu theo nghĩa một tính từ chỉ sự thất thường, hành động cảm tính, suy nghĩ phi lý tính, thay đổi tâm trạng như lá khô trong gió, thích sử dụng vui đùa cái vũ khí tối thượng mang tên quyền lực nữ tính của mình. Marianne là một cô gái như vậy. Nhưng phải thú nhận rằng Marianne là một cô gái mà người ta không thể không yêu. Vai này được diễn bởi Anna Karina, vợ của Godard. Cô quá đẹp, cái đẹp mượt mà, sinh động của một con cáo, thân hình của cô gái pháp thon nhỏ, duyên dáng nhưng đầy sức sống, đôi mắt thông minh, ranh mãnh khó lường, có lúc lại si tình, mơ màng. Cũng giống Pierrot, ở cô có khía cạnh hiện sinh. Cô chả cần gì, tiểu thuyết, nhạc hay thậm chí là cô cũng chả cần tiền. Cái cô muốn, là sống. Mà sống đối với cô lúc này là yêu Pierrot của cô, là đi mãi cho đến những bờ biển địa trung hải, là hát cho anh nghe, đọc thơ với anh, diễn những vở kịch nho nhỏ với Pierrot, người cứ luôn không chịu chấp nhận cái tên ấy. Cô mong muốn mãi mãi được phiêu lưu. Khi Pierrot hỏi cô "You'll never leave me ?". Cô trả lời ngay : "Of course I won't." Pierrot hỏi lại "Of course ?" Marianne nhìn anh và nói : "Yes, of course." Rồi cô nhìn xuống bàn. Rồi nhìn thẳng vào người xem. Khuôn mặt cô rất đẹp. Rồi cô nhìn người yêu và nói lần nữa : "Yes, of course.". Rồi cô nhìn xuống bàn. Và lại nhìn vào ống kính. Lần này thì chỉ còn mỗi Pierrot là không hiểu cô đang nói dối, và người xem (hay tôi) cảm thấy rất khó tả, cái cảm giác có lẽ gần giống khi ta được chứng kiến một phút huy hoàng rực rỡ mà trong lòng đã hiểu rõ nó sẽ nhanh chóng lụi tàn, cái ta đang giữ trong tay rồi sẽ chuội đi như nắm cát, chỉ lại một sự hối tiếc, một sự tất yếu không gì ngăn chặn được. Một cảnh tuyệt đẹp của Anna Karina.

Ferdinand, hay Pierrot (the Crazy) như cách Marianne gọi, lại là đại diện cho lý tính. Anh suy tưởng trong hầu hết thời gian film. Anh đọc sách và nghe nhạc theo tỉ lệ 50 quyển sách một đĩa nhạc. Anh nói anh không bao giờ có nổi một cuộc trò chuyện có nghĩa với Marianne bởi vì ngôn từ của anh là ý tưởng (idea), trong khi ngôn từ của cô chỉ toàn là cảm xúc (feelings). Anh cô đơn, anh tuyệt vọng (despair) (***), anh chỉ còn tin vào văn học. Anh mang theo một quyển notebook, anh viết, anh quote các câu văn và thơ như thể đó mới là nhu cầu chính của anh trước cả ăn, ngủ và làm tình. Khi bị Marianne bỏ rơi, ngôn từ là mảnh đất duy nhất mà anh có thể trú ngụ :

He still keeps a diary. For words have the power to disperse the shadows from around the objects they name. Even if it's compromised, in everyday life, language often retains only what is pure.

Pierrot và Marianne, nam tính và nữ tính, lý trí và cảm xúc lúc quyện vào nhau, lúc rời xa nhau song hành xuống miền Nam. Trên nền sợi dây phiêu lưu đơn giản này, Godard bắt đầu treo vào những bài thơ, những đoạn văn, những bài hát, những vở kịch nho nhỏ, những mỉa mai chính trị, những câu chuyện cười ý nhị, những khung hình chậm như những bức tranh. Phải nói rằng đây là một sợi dây biết hát. Tôi thích tất cả những khung hình có Marianne. Mọi thứ về cô đều hiển hiện nữ tính : khi cô nhảy, hát, nói, cả khi cô giết người. Chưa bao giờ tôi xem một bộ phim mà trong đó có cô gái giết người đẹp nên thơ như thế. Không một chút vẩn đục của bạo lực. Cảnh "đánh nhau" giữa Marianne dùng kéo và tên gangster lùn cầm súng là một trong những cảnh ấn tượng nhất của phim này, dù chỉ diễn ra có vài giây. Karina đứng giữa hai bức tranh của Picasso, giơ cái kéo về phía ống kính, lưỡi kéo và hai ngón tay cô tạo thành hình một con chim và khi cô cắt, con chim bắt đầu bay. Cô là sức sống của cảm xúc bên cạnh một Pierrot thông minh sáng suốt chấp nhận những giới hạn, những xiềng xích không thể cởi bỏ của sự hiện hữu.

Như là cái chết.

Ở cuối phim, có một cảnh rất đẹp. Sau khi Pierrot giết Marianne và tự sát, camera quay về phía biển, biển rộng lớn và xanh ngắt. Lời dẫn chuyện cuối cùng :

Marianne's voice : It's ours again.
Pierrot's voice : What is ?
Marianne's voice : Eternity.
Pierrot's voice : That's just the sea, gone...
Marianne's voice : With the sun.

Pierrot le fou là một tác phẩm kinh điển của điện ảnh pháp. Tôi nghĩ là không quá lời khi nhiều người nhận xét rằng đây là một bộ phim đã vượt qua cả định nghĩa của điện ảnh, nó còn là văn học, âm nhạc, hội họa, là thơ, nó chứa đựng cả một thời kỳ nghệ thuật với nhiều phong trào khác nhau. Godard muốn làm một bộ phim nghệ thuật, và ông đã đạt được nghệ thuật.

---------------

imdb : 7.6 ...what a stupid crowd.

---------------

(*): Nói qua một chút về avant-garde : là một từ tiếng pháp của từ tiếng anh vanguard, tạm dịch ra tiếng việt là tiền phong (hoặc tiền vệ ?). Trào lưu này chủ yếu diễn ra trong thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại (modernism), vào giữa thế kỷ hai mươi. Những người theo avant-garde là những nghệ sĩ tách riêng ra khỏi trào lưu chính thống (mainstream), đối lập với nó, chống đối nó, cái ở đây phải hiểu thêm là trào lưu chính thống thương mại (commercial mainstream). Cải cách công nghiệp hóa trên diện rộng trong thời kỳ này đã dẫn đến việc thương mại hóa nghệ thuật, hình thành cái mà cho đến ngày nay vẫn tồn tại, Mass Media. Nó phục vụ cho mục tiêu cuối cùng và tối thượng là lợi nhuận, chứ hoàn toàn không vị nghệ thuật. Lợi nhuận ở đây không chỉ hiểu đơn giản là tiền, mà là tất cả những thứ có thể chuyển hóa thành lợi ích vật chất và dục vọng, ví dụ như độ nổi danh (popularity). Những sản phẩm của Mass media mang tính kitsch : không có từ tiếng việt tương ứng, nhưng có thể hiểu là sến, nông cạn, trang sức, giả tạo. Nó thường vay mượn một số biểu hiện bên ngoài của nghệ thuật vị nghệ thuật thực sự, ví dụ như chính của các tác phẩm vanguard, bên trong nó trống rỗng, không có chiều sâu, thường là vô giá trị. Kitsch cũng là một trào lưu, và tuy đã có trên thế giới từ lâu, có lẽ ở việt nam nó mới chỉ bắt đầu, dưới các phong trào mang tính bầy đàn như chụp ảnh, viết xã luận (của hot blogger), văn chương 8x,9x, nhạc v-pop. Tôi tự nhủ quan niệm của mình về nghệ thuật phi lợi nhuận, thậm chí phi công chúng cũng có thể phần nào xếp vào avant-garde.

(**): French new wave là một trào lưu điện ảnh những năm 50 và 60. Về nội dung, những phim của trào lưu này thường có nhiều yếu tố hiện sinh và một sự chấp nhận cái phi lý không thể tránh khỏi của cuộc đời con người. Về kỹ thuật (cinematic stylings), các đạo diễn thường sử dụng sáng tạo các kiểu lời dẫn chuyện; không quan tâm đến tình liền mạch của các đoạn phim, đưa ra những xâu chuỗi hình ảnh rời rạc, thay đổi nhanh chóng; mặt khác lại sử dụng những góc quay được giữ rất lâu bám theo đối tượng được quay; phát triển nhân vật không tuyến tính; luôn tìm cách nhắc khán giả nhớ là họ đang xem một bộ phim, một tác phẩm của con người chứ không phải một thực tại khác, ví dụ như trong Pierrot le fou, có lúc Pierrot đang lái xe tự nhiên quay lại nhìn vào màn hình nói vài câu bông đùa với khán giả.

(***): despair, từ được dùng nhiều trong film là một trong 3 keyword của triết học hiện sinh.





Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

Closer

Tôi vốn xem rất nhiều phim, từ khoảng 5 năm trở lại đây trung bình ngày nào tôi cũng xem ít nhất là một phim có rating lớn hơn 6,5 trên trang imdb.com. Nhiều khi tôi còn tự nhủ không rõ mình đã xem được bao nhiêu phần trăm những phim hay của nhân loại ? Có khi phải đến 70% hoặc hơn. Và tôi lấy làm lạ rằng tại sao tôi lại viết về phim ít như thế. Tự nhủ có lẽ phải chăm hơn, bởi vì có những phim hay tôi xem xong có thể ghi lại nhiều suy ngẫm của mình, nếu lười không làm ngay thì nó sẽ bị loãng và quên đi.


Có lẽ nên bắt đầu với những phim mà tôi đã xem nhiều lần. Closer (2004) là một trong số đó.


Đây không phải là một bộ phim thường thấy của Hollywood. Điều đầu tiên cần chú ý, đấy là nó là phim chuyển thể từ kịch. Nó có 4 nhân vật chính : Alice/Jane (Natalie Portman), Dan (Jude Law), Anna (Julia Roberts), Larry (Clive Owen). Không có nhân vật phụ và chỉ có một ít diễn viên quần chúng. Phim được ghép lại từ nhiều cảnh, giống như trên sân khấu kịch và thường là cảnh ở trong một căn phòng. Nhân vật chủ yếu diễn trong khoảng không gian hẹp của cảnh đó, không di chuyển nhiều, dùng đối thoại là chính. Tôi nhận thấy bởi tính kịch của nó, yếu tố ngẫu nhiên (chance, randomness) và phi lý (absurd) bị loại bỏ hoàn toàn, trong phim này, mọi câu thoại, biểu cảm trên mặt đều được tính toán kỹ, loại bỏ sự ngẫu hứng, nhân vật có tâm lý được cấu tứ logic trong các quan hệ đối với nhân vật khác hoặc đối với bản thân.

Warning !! Contains strong spoilers !! Do not read further before watching the film.

Thắc mắc thường gặp 1 : Tại sao tên phim lại là Closer ?

Tôi đã search trên net và gặp rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi này, đơn giản có, phức tạp có, chơi chữ có mà ẩn dụ cũng có. Nhưng không có câu trả lời nào giống như câu trả lời của tôi cả. Tôi nghĩ nó khá đơn giản, không quá gắn vào nội dung chi tiết và các câu nói trong phim như nhiều người suy luận. Closer ở đây nghĩa là Gần hơn. Câu chuyện trong phim, nếu nhìn bên ngoài, thoáng qua thì khá tầm thường : một mối tình tay tư. Cô A yêu anh B, anh B ngoại tình với cô C, cô này đã có chồng là anh D, anh D thất tình tìm đến cô A v..v... Một bộ phim về chuyện yêu đương, về tình yêu giữa hai anh và hai cô có ngoại hình hấp dẫn, nói năng sắc sảo, thông minh. Cả bốn nhân vật đều thật, và nếu gặp họ ở ngoài đời, chắc chắn bạn sẽ bị họ cuốn hút.

Vấn đề là : họ có thực sự tuyệt vời như vẻ ngoài của họ, sắc sảo như ngôn từ của họ không ? Họ có thông minh không, cái thông minh theo nghĩa đáng quý nhất, cái làm cho họ và người họ yêu hạnh phúc ? Họ có biết yêu không ? Tình yêu của họ, nếu có, có thực là đẹp không ? Tâm hồn của họ thế nào ?

Let us take a Closer look. Hãy nhìn Gần hơn. Nhìn gần hơn để thấy rằng tâm hồn con người khác biệt với vỏ ngoài của họ, hãy để bộ phim này là một ống kính sắc nét soi vào từng mối quan hệ, từng sự đam mê, ham muốn, từng sự thất vọng, ngờ vực, từng cảm giác tội lỗi, sự đắc thắng, từng xúc cảm tinh vi mà mỗi nhân vật tạo ra cho những nhân vật khác hay cho bản thân mình, soi vào và hiểu thấu từng cá tính phức tạp của mỗi người thể hiện ra trong các quan hệ yêu đương.

Hollywood không chỉ có những bộ phim romantic đầy cliche'. Tình yêu, vốn hay được gắn với sự hy sinh, sức nâng đỡ tâm hồn vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, gắn với hạnh phúc, nhưng cũng có khi nó lại gắn với những thứ hoàn toàn khác mặc dù vẫn tinh tế và phức tạp không kém. Closer là một bộ phim dành cho người lớn. Đối thoại trong phim tương đối phức tạp và nhanh và tất nhiên trong các cuộc đối thoại tình cảm, nhiều người sử dụng ngôn từ như một con đĩ, nhất là Dan, và các nhân vật còn lại đều nói chuyện theo kiểu khó có thể đoán định thật giả. Cần có một vốn sống nhất định, từng trải nhất định trong các quan hệ tình cảm để hiểu hết những gì bộ phim này biểu đạt.

Về khoản dễ thích nhưng khó "hiểu hết" này Closer có gì đó chung với Trăm năm cô đơn. Tôi còn nhớ có một cái forum mà hầu hết các "bạn yêu văn học" ở đó đều nói Trăm năm cô đơn là tác phẩm tuyệt vời nhất các bạn ấy từng đọc. Cũng giống như tôi. Thế tôi mới hỏi từng bạn một tại sao lại nghĩ nó tuyệt vời đến thế ? Buồn cười là tất cả các bạn đều trả lời giống hệt nhau đến từng chữ, hay chính xác hơn là giống câu trả lời của một bạn "đầu tàu" trong đó : thích cái không khí trong truyện. Tôi hỏi thêm là cụ thể cái không khí đó là cái gì thì các bạn chịu, và các bạn nói rằng nhiều khi có thể thích một tác phẩm mà chẳng cần phải hiểu nó, chẳng cần phải có khả năng diễn đạt ra.

Closer cũng thế, nhiều người thích phim này, có điều tôi thấy không ít người không có khả năng hiểu hết các tình tiết của nó.

---------------

Thắc mắc thường gặp 2 : Larry và Alice có thật là đã ngủ với nhau không ?

Trong lần gặp nhau ở gần cuối phim, Larry đã cho Dan một ngón đòn kết liễu : Larry nói đã ngủ với Alice. Lần đầu xem phim này, tôi không hề tin chuyện đó. Larry vốn là kẻ coi chuyện tình cảm nhiều khi như một cuộc chiến tàn nhẫn và anh ta hoàn toàn có khả năng bịa ra chuyện này để phá hỏng quan hệ của Dan và Alice.

Dan: You think love is simple. You think the heart is like a diagram.
Larry: Have you ever seen a human heart? It looks like a fist, wrapped in blood !

Quan trọng hơn, trong cảnh trước đó giữa Larry và Alice ở trong strip club, mặc dù cũng như lần gặp trước đây của hai người trong lần triển lãm ảnh của Anna, giữa họ có những tương tác, hấp dẫn giới tính nhất định, Alice tỏ một thái độ khá nhất quán rằng cô vẫn còn yêu Dan mặc dù đã bỏ Dan mà đi. Ở đầu phim, Alice từng nói cô không bao giờ rời bỏ một người khi chưa hết yêu. Còn một khi đã hết yêu, Alice sẽ nói : "I don't love you anymore" và bỏ đi. Alice nói với Larry : "I don't desire you." và "I am not your revenge fuck." Giống như rất nhiều câu thoại trong phim này, câu thứ nhất của Alice có thể không phải là 100%, câu thứ hai chắc chắn là sự thật. Xuyên suốt cả phim, Alice làm cho người xem cảm thấy trong bốn người thì cô là kẻ thực lòng yêu nhất, hiến mình cho người cô yêu. Với Alice, tình yêu là tất cả : "Why isn't love enough ?" - cô đã hỏi Dan khi bị Dan bỏ để chính thức đến với Anna.

Larry đã thành công trong việc phá hỏng quan hệ của hai người. Dan nuôi một nỗi nghi ngờ và cả một sự tò mò khó dập tắt. Anh hỏi Alice có ngủ với Larry không. Alice nói không. Dan không tin và cho Alice tối hậu thư rằng sau khi anh ta đi mua thuốc lá, cô phải nói thật. Khi anh quay về, Alice nói với anh "I don't love you anymore." Sau đó, cô nói thêm :

DAN: Since when?
ALICE: Now. Just now. I don't want to lie. Can't tell the truth, so it's over.
DAN: It doesn't matter. I love you. None of it matters.
ALICE: Too late. I don't love you anymore. Goodbye.
ALICE: Here's the truth, so now you can hate me. Larry fucked me all night. I enjoyed it. I came. I prefer you. Now go.
...

DAN: Why did you fuck him?
ALICE: I wanted to.
DAN: Why?
ALICE: I desired him.
DAN: Why?
ALICE: You weren't there!
DAN (getting upset): Why him?
ALICE: He asked me nicely.

Lần đầu xem phim, tôi nghĩ Alice là người gần với tình yêu nhất, và khi tình đã mất thì còn hận và Alice nói như thế với Dan là để xát muối vào vết thương. Hơn nữa Alice nói thế khi đang giận dữ. Thêm nữa trước đó ta không hề thấy Larry "asks Alice nicely".

Thế nhưng có một chỗ không ổn, đó là biểu cảm của Alice khi Dan nói Larry đã kể điều này. Sự biểu cảm này có gì như là hơi ngẩn ra một chút, ngạc nhiên. Nó không có phần giận dữ đáng ra phải có khi nghe một lời nói dối nguy hiểm và độc ác đến như thế nhằm vào mình. Ngoài ra, Larry biết từ "Buster", cách Alice gọi Dan. Làm sao Larry biết được ? Nhiều khả năng là từ Alice, dù cũng có thể từ các biện pháp gián tiếp khác. Đấy là lý do khi xem lại phim này lần hai, tôi không hoàn toàn nghĩ như lần đầu nữa.

Nghĩ lại, có thực Alice là một cô gái lành mạnh, biết hy sinh vì tình yêu lớn không ? Xét từ đầu phim, không có chi tiết nào cho thấy Alice là một cô gái suy nghĩ thông suốt và có lối sống lành mạnh. Cô xuất hiện ở giữa London không hành lý, và cũng không phải là khách du lịch. Cô không có một kế hoạch nào cả, dường như cô chỉ làm theo cảm tính nhất thời sau khi bỏ người yêu cũ ở Mỹ. Cô kiếm tiền bằng múa thoát y. Cô gặp một anh chàng và gắn như sam vào anh ta. Dưới vẻ ngoài khá cởi mở và vui vẻ, nói chuyện sắc sảo, láu lỉnh, trong cô có khá nhiều bức tường vô hình. Cả Dan và Larry khi mới gặp cô đều nhận thấy điều đó. Và một điểm rất quan trọng mà tôi đã bỏ qua : suốt từng ấy năm ở cùng Dan, cô chưa một lần muốn nói ra tên thật của mình. Điểm đó thể hiện một quá khứ đau buồn, hoặc một sự không chắc chắn, một sự tự ti về bản thân. Thêm vào đó, cái tên cô vay mượn lại không phải là một cái tên bất kỳ, mà là một cái tên của một người đã chết. Không ai làm vậy mà không thấy ghê cả. Đây là một hành động khá bệnh hoạn. Hóa ra, trong bốn nhân vật, Alice lại là người có nhiều vấn đề về tinh thần nhất. Cô có đặc điểm của kiểu con gái yếu đuối coi tình yêu là một mỏ neo. Khi mỏ neo còn thì cô ổn định, khi mỏ neo mất, các cô sẽ mất phương hướng, trôi giạt cho đến khi tìm được một mỏ neo mới.

Đối với các cô gái kiểu này, đúng là tình dục luôn gắn liền với tình yêu, vì các cô coi tình dục là một sự hiến dâng thiêng liêng cho tình yêu của mình. Các cô quan niệm tình yêu hầu như một tôn giáo. Các cô đặt tình yêu lên bệ thờ theo một cách mù quáng và cuồng tín. Cơ hội của Larry hay bất kỳ ai khác để ngủ với Alice khi giữa Dan và Alice không có chuyện gì là Zero. Không có phần trăm nào cả. Nhưng chính những cô gái này khi ở trong tình trạng thất tình thì lại trầm cảm, đau đớn hơn hẳn các cô gái tầm tầm. Trong trạng thái tuyệt vọng và cô đơn, các cô loại này có thể ngủ với bất kỳ ai. Nếu Larry thật sự ân cần và quan tâm mời Alice lên giường thì tôi thấy không có lý do gì để chắc chắn là Alice sẽ cự tuyệt.

Trong vở kịch cùng tên, Alice có ngủ với Larry. Nhân vật Alice trong kịch hơi khác với trong phim. Cô có nhiều đặc điểm của depressive chick hơn : nói dối, tự cắt và chân, tay, đi đường không hề nhìn đèn giao thông, không quan tâm đến sự nguy hiểm, có khuynh hướng tự phá hủy (self destruction), tránh né sự đi sâu của người khác vào tâm hồn mình. Cuối vở kịch Alice băng qua đèn đỏ và bị xe cán chết, cảnh sát chỉ tìm thấy mỗi số điện thoại của Dan trong mobile của cô. Trong phim, sự yếu đuối của Alice được gọt đi nhiều, có lẽ cũng vì Natalie Portman hợp với một cô Alice thông minh hơn, khó dò hơn. Khuôn mặt của Portman không hợp với một vai quá depressive. Ở cảnh cuối cùng của phim, Alice băng qua đèn đỏ nhưng giao thông đang rất tắc nghẽn đông đúc, không thể có cái xe nào đủ nhanh để cán chết cô. Cảnh giống như đầu phim lúc gặp Jude Law. Ý tác giả là Alice sẽ lại bắt đầu một cuộc tìm kiếm mỏ neo mới.

Kết luận : Đạo diễn đã cắt đủ nhiều để chuyện Alice ngủ với Larry trong vở kịch trở thành một câu hỏi không thể trả lời trong phim. Tuy khả năng Alice có ngủ với Larry hợp lý hơn, khả năng còn lại vẫn chấp nhận được. Biểu cảm thoáng qua của Alice là quá nhỏ và có thể hiểu theo nhiều nghĩa.

---------------

Một điều phải nói thêm, Dan mang tiếng là một nhà báo, nhà văn, trong suốt từng ấy thời gian mà không hề cảm nhận được nội tâm của Alice, chưa bao giờ tìm cách khiến cô nói ra những uẩn khúc, ẩn ức của mình. Một tình yêu đích thực sẽ làm lành vết thương của Alice, làm cô đỡ yếu đuối, tháo bỏ các thành trì dày đặc trong tâm hồn cô. Dưới vẻ ngoài đẹp trai, đáng yêu, vẻ nhạy cảm và tinh tế của một nhà văn, Dan quả thật là một thằng cha nông cạn, bất tài, không hề nhạy cảm, ngu ngơ độc ác. Dan làm tình với đôi mắt nhắm và lúc ngủ mớ thì gọi mẹ. Anh ta tàn nhẫn với Alice một cách tự nhiên như không, có lẽ anh ta cũng đã tàn nhẫn với Ruth y như vậy. Alice đã nhận xét về cách Dan toàn dùng những "easy words". Ngôn từ của Dan như một con đĩ, thích nói gì thì nói thế, thứ ngôn từ không có sự thật ở đằng sau, cũng không có lương tâm (những kẻ như thế này tôi đã gặp không ít trong đời). Có thể kể ra đây hai câu.

Một câu nói với Anna :

"What's so great about the truth? Try lying for a change. It's the currency of the world."

Một câu nói với Alice :

"DAN: I'll go to the terminal. When I get back, please tell me the truth.
ALICE: Why?
DAN: Because I'm adicted to it. Because without it, we're animals. Trust me."

Loại đàn ông này yêu một cô gái đã là không xứng chứ đừng nói là hai. Anh ta nói dối Alice trong suốt một năm thì không sao, nhưng đến khi Alice nói cô không có gì với Larry trong khi Dan đang ở với Anna thì Dan lại không thể chịu nổi ý nghĩ là thực ra đã có. Kết cục cuối phim cho thấy điều đó : Dan thất bại trong cả hai mối tình với Alice và Anna. Trùng hợp là cả hai mối tình đều kết thúc không lâu sau hai câu nói ở trên. Alice và Anna có thể thiếu khả năng tạo ra tình yêu lành mạnh, chứ lòng kiêu hãnh thì các nàng đương nhiên cũng có vài ngọn núi.

-------------------

Vậy Anna, người phụ nữ - nghệ sĩ nhiếp ảnh thành đạt và xinh đẹp thì sao ? Nàng có nên là một nàng thơ của một thi sĩ nào đó không ? Đáng buồn là không. Có thể nói Anna là nhân vật xám nhất trong phim này, tầm thường và xấu xa một cách tầm thường. Đầu phim, ta biết được Anna đã có một đời chồng và bị chồng bỏ chạy theo một cô gái trẻ. Khi Anna nói cái title "Aquarium" hợp hơn, Dan đã nhận xét "So you liked the filth. You like aquariums." Anna lấy Larry trong khi vẫn qua lại với Dan, và sau đó chủ động nói với Larry là cô đang ngủ với Dan. Larry hỏi Anna cảm thấy gì, cô đáp "Guilty". Larry nói Anna hèn nhát "Cowardice". Đấy cũng là từ mà Dan nhận xét về Anna khi sau đó, khi đang ở với Dan, Anna lại ngủ với Larry với cái cớ rằng để Larry ký vào tờ giấy ly dị. Cuối phim, Larry nói với Dan rằng :

LARRY: She doesn't want to be happy.
DAN: Everybody wants to be happy.
LARRY: Depressives don't. They want to be unhappy to confirm their depression. If they were happy, they couldn't be depressed anymore. They'd have to go out into the world and live, which can be depressing.
DAN: Anna's not a depressive.
LARRY: Isn't she?

Anna cũng là một depressive - masochist chick. Khác với kiểu của Alice là giấu kín nó vào trong rất nhiều bức tường phòng thủ, Anna có nhu cầu cần được cảm thấy có tội lỗi thường xuyên. "As you know, she loves a guilty fuck" - Larry đã nói thế. Với cái nhu cầu đó, làm sao Anna có thể xây dựng cuộc sống hạnh phúc với bất kỳ ai ? Dưới vẻ ngoài thông minh và nhan sắc, Anna không hề biết yêu, cô biết phải lòng, biết nói dối, hèn nhát, biết cả kiêu hãnh và tàn nhẫn nữa, đáng buồn thay. Cuối phim, Anna trở về ngủ cạnh Larry, có thể thấy gương mặt cô không có tình yêu, trên gương mặt ấy có một vẻ an phận và cam chịu tạm thời bởi không còn lựa chọn nào. Trong vở kịch có một cảnh mà trong phim không có, đó là nhiều năm sau, Larry gặp lại Anna, khi ấy Larry đã có vợ và vài đứa con, còn Anna vẫn một mình, chỉ có một con chó.

---------------

Còn lại Larry. Larry có biết yêu không ? Có, một chút. Không nhiều nhặn, hay ho gì, cái chút khả năng yêu ấy chỉ ngang với Alice và theo một sắc thái hoàn toàn khác. Đấy là lý do mà người xem có thể cảm nhận sự đam mê nhiều nhất trong các câu thoại giữa hai người này. Đối với Larry, tình yêu là cuộc chiến, trái tim là một nắm đấm được bọc trong máu. Larry thô lỗ, nóng tính và thông minh. Larry tự nhận mình là "cave man". Đi chơi đĩ và đôi khi đối xử với Anna ở trên giường như đối xử với một con đĩ. Mặc dù thế, giống như Alice hiến mình cho Dan, anh ta ở mức độ nào đó, chung thủy với Anna. Anh ta đàn ông hơn Dan và hiểu tâm lý con người, cuối cùng anh ta đã chiến thắng : dành lại Anna, phá hủy quan hệ của Dan và Alice. Anh ta chưa từng phản bội Anna và anh ta đã tha thứ cho sự phản bội của Anna :

DAN: You'll hurt her. You'll never forgive her.
LARRY: Of course I'll forgive her. I have forgiven her. Without forgiveness, we're savages.

---------------

Về mặt diễn xuất, tôi xếp theo thứ tự Clive Owen - Natalie Portman - Jude Law / Julia Roberts. Biểu cảm và các câu thoại của Owen là ấn tượng nhất, anh làm cho nhân vật Larry có thêm nhiều sự thú vị dù đất diễn của anh không rộng bằng Portman. Natalie Portman đương nhiên là tuyệt rồi, tôi nghĩ phim này là phim hay nhất của cô cho đến nay. Jude Law vẫn là Jude Law, chỉ diễn được một kiểu, và kiểu ấy hợp với vai Dan. Julia Roberts diễn tương đối tốt, tôi cảm thấy nhiều diễn viên khác cũng sẽ diễn được như cô.

---------------

Soundtrack : The blower's daughter - Damien Rice, one of my favorite songs.

Alice can very well be the one who says : "Did I say that I loathe you ? / Did I say that I wanted to / Leave it all behind ?"

Imdb rating : 7.5, a bit low.

---------------

After this review, I feel good and reassured.
My love is healthy and deep.

The everlasting questions (3)

"Behind this mask is not a man, is an idea." V, V for Vendetta.
But what is the different between a man, and an idea, especially when we take the animal out of the men ?

Gần đây tôi có xem Pi, một bộ phim được nhiều người đánh giá là hay. Tuy đặt trên nền toán-tin, tác giả muốn nói đến quá trình nhận thức của con người về toàn thể thế giới, những ám ảnh điên cuồng và vinh quang của các nhà khoa học nói chung, và về chuyện cái giá mà họ phải trả liệu có xứng đáng hay không. Có một câu được lặp đi lặp lại nhiều lần trong độc thoại của nhân vật chính : “…my mother told me not to stare into the sun…”, ám chỉ một thông điệp xuyên suốt : đừng có cố giải mã cuộc sống, hãy sống. Theo tôi, thông điệp này ngu xuẩn và là một sự báng bổ với rất nhiều nhà khoa học chân chính, không vĩ cuồng, không điên khùng như nhân vật chính trong Pi, những người đã dùng cả cuộc đời và trí óc, giúp cho nhân loại ngày một văn minh, bằng cách giải mã những bí mật trong cuộc sống. Phải chăng đó chính là một trong những cách sống đáng kính trọng nhất ?

Trong Pi, có một chi tiết về máy tính : khi bị nhà nghiên cứu bắt nó giải quyết một vấn đề cơ bản nhất, cái có lẽ sẽ cho ra lời giải về mọi điều trong thế giới, máy tính rơi vào mê cung của những vòng lặp không lối thoát, và cho ra một lời giải. Nó không phải là lời giải của vấn đề trên, mà lại là bằng chứng cho thấy ở một góc độ nào đó, máy tính trở nên có ý thức tự thân, nó cảm được sự tồn tại của mình và muốn đưa ra một thông điệp.

Đây là một ý hay, có điều lại không mới : Hơn mười năm trước, ý tưởng này đã có trong Ghost in the Shell 1, và được trình bày hay hơn hẳn.

Nếu có thể chê GiTS ở một điểm gì, đó hẳn là sự “quá thông minh” của đạo diễn. Một mẩu nhỏ của GiTS cũng trở thành điểm nhấn trong một tác phẩm như Pi. GiTS movies súc tích đến mức căng thẳng, khi mà mỗi dòng đối thoại đều khiến tôi phải ấn Pause và suy nghĩ thật kỹ. Điều đó không hẳn đã là hay. Vì thế hai tập GiTS hay nhất mà tôi được xem lại chính là hai seri phim : The laughing manThe individual eleven. Khi dãn ra thành phim nhiều tập, đạo diễn có một không gian lớn hơn để phát triển các tư tưởng, có thể để những khoảng lặng, có thời gian xây dựng một cấu trúc phim chi tiết hoàn thiện hơn. Điều này cũng giống như có những câu chuyện dài, tinh vi và sâu sắc, nếu viết thành truyện ngắn thì rất hay, nhưng chỉ thật sự tuyệt hảo khi viết thành tiểu thuyết.

3.It's because we're all alive that we're sad. (*)

Khi xem các phim GitS trước, tôi không bao giờ tưởng tượng được sẽ có lúc Kusanagi - the Major có người yêu. Tôi không hình dung ra được một tính cách phù hợp hài hòa với cô gái có cơ thể máy, trầm tư, mạnh mẽ và thông minh tuyệt đỉnh này. Thế rồi Hideo Kuze xuất hiện và chuyện tình của hai người thuyết phục đến mức tôi ngờ rằng đạo diễn đã ém Hideo Kuze ngay từ trước khi GitS công chiếu tập đầu tiên.

Khoảng giữa bộ phim dài Individual Eleven, quá khứ của Kusanagi được tiết lộ. Người ta vốn ít nghe nói thông tin về đời tư của cô, chỉ biết từ nhỏ Kusanagi đã có một cơ thể hoàn toàn là máy (cyborg body). Thật ra cô bé đã bị tai nạn máy bay. Tất cả hành khách đều thiệt mạng, ngoại trừ cô và một cậu bé ngồi cạnh. Tuy không chết, cô rơi vào trạng thái hôn mê sâu, không tỉnh lại được. Cậu bé thì bị liệt toàn bộ cơ thể, trừ cánh tay trái. Lâu ngày, nằm trong bệnh viện cạnh nhau, cậu bé, lúc này mất hết gia đình và bị họ hàng bỏ rơi, đã bắt đầu coi cô bé như người bạn duy nhất của mình. Cậu thầm cầu cho cô bé tỉnh lại, và quyết tâm gấp một ngàn con hạc giấy (người Nhật cho là nếu gấp đủ một ngàn con hạc, thì ước nguyện sẽ thành hiện thực). Vì thế cậu tập gấp hạc chỉ bằng bàn tay trái. Làm chưa đủ số thì tình trạng cô bé xấu đi, và người ta bảo cô bé đã đi đến một nơi rất xa. Trong hai năm sau đó, cậu bé không nói chuyện với ai, chỉ liên tục gấp hạc trong im lặng. Cứ như thể chuyện đó là một nhiệm vụ quan trọng được giao cho cậu. Muôn vàn con hạc giấy tràn ra khỏi giường bệnh của cậu, tràn xuống sàn nhà, nhiều quá đến nỗi y tá phải cất vào hòm giấy, rồi hòm giấy nhiều quá đầy cả một bức tường. Cho đến khi bác sĩ đến hỏi cậu có đủ dũng cảm để thực hiện một ca phẫu thuật khiến cậu có thể hoạt động như người bình thường không. Cậu bé không trả lời. Có còn gì chờ đợi cậu trong thế giới ngoài kia nữa đâu ? Cậu chẳng còn muốn bất cứ điều gì, ngoại trừ việc gấp những con hạc giấy.

Cuộc sống cứ thế trôi đi, cho đến một ngày có một cô bé tìm được đường vào trái tim cậu. Cô bé có cơ thể bằng máy, được bác sĩ mang đến chơi với cậu, có lẽ nhằm thuyết phục cậu. Đấy là một cô bé vui vẻ, hiếu động. Cô đã phải chịu đựng rất nhiều để thích ứng với các bộ phận máy móc trên người, nhưng cô không hề than vãn. Trái lại cô còn động viên cậu bé thực hiện phẫu thuật. Cậu bé thường ngồi im lặng và nghe cô bé nói. Rồi một hôm cậu bé đột nhiên mở miệng : "Bạn có gấp được hạc bằng bàn tay máy kia không ? Nếu được thì tớ sẽ chịu phẫu thuật." Cô bé với cơ thể máy có thể chạy nhảy nhanh hơn cả người thường, nhưng với những việc khéo léo như vậy, cô chưa làm được. Dù rất cố gắng, cô không gấp được con hạc nào cả. Thất vọng, cậu bé nói rằng nếu phẫu thuật làm cậu không còn gấp được hạc cho cô bé đã chết trước đây, thì chẳng thà cậu cứ như bây giờ.

Sau hôm đó, cô bé không đến chơi với cậu nữa, và nói cô sẽ tiếp tục tập gấp hạc cho cậu. Chỉ sau khi cô bé ra đi, cậu bé mới nhận ra cô bé người máy này và cô bé bạn cậu hai năm trước chỉ là một. Cậu tự hứa với mình sẽ đi tìm cô bé. Với quyết tâm mới, cậu đã vượt qua được tất cả những khó khăn trong việc làm quen với cơ thể máy và sống lại cuộc sống bình thường.

Phải hơn hai mươi năm sau họ mới gặp lại nhau. Trong thời gian dài ấy, cả hai đều đã thay đổi rất nhiều cơ thể máy khác nhau, và không thể nào biết người kia sẽ chọn một hình dạng bên ngoài như thế nào. (Tôi nghĩ thật là tuyệt nếu mình có thể gặp lại một người bạn trong quá khứ, thấy người đó đã trở thành một người tốt, thú vị. Chuyện đó không xảy ra với tôi. Mọi sự chỉ như lời Hideo Kuze : "Water flows to lower height, and so does the human heart.")

Chiến tranh thế giới thứ 3 rồi thứ 4 ập đến, cậu bé vào quân ngũ, phiêu bạt đến nhiều vùng đất khác nhau. Trong những chuyến đi xuyên châu lục đó, ở cậu nảy sinh một sự cảm thông và gắn kết sâu sắc với những người nghèo, những người không vị thế, không tiền bạc. Tư tưởng của cậu hoàn thiện, rồi tiến đến lý tưởng. Bất mãn với sự bất công và tình trạng lạc hậu ngu dốt đè nặng lên tầng lớp này, cậu trở thành một người hoạt động độc lập, một phần tử khủng bố, một người cách mạng. Cũng sở hữu cùng một cảm nhận mạnh mẽ về lẽ phải, Kusanagi chọn một con đường khác : chống tội phạm. Với khả năng lãnh đạo và tư duy chiến thuật, cô trở thành đội trưởng đội đặc nhiệm số 9. Cô cùng với đồng đội điều tra seri khủng bố Individual Eleven, và việc đó dẫn đến Kuze. Vụ điều tra này là nội dung chính của phim, vì quá dài nên không thể kể ra ở đây.

Biết đến sự tồn tại của Kuze sớm, nhưng chỉ đến tập cuối, hai người mới thực sự ở bên cạnh nhau, nói chuyện với nhau. Hoàn cảnh cũng thật trớ trêu : Quân đội dùng pháo và rocket tấn công vùng phiến loạn đòi tự trị, một quả rocket nổ gần hai người, khiến hai người tụt xuống một cái hố, bị bê tông và gạch vụn bịt kín ở trên, trong khi trong một thời gian ngắn nữa, đầu đạn hạt nhân sẽ đáp xuống, và sẽ giết chết toàn bộ tất cả cư dân vùng này.


Những lời hai người nói với nhau đơn giản, không có gì đặc biệt.

Kusanagi hỏi : "Anh có thể gấp hạc không ?"
Kuze : "Bây giờ chỉ cần download phần mềm thì ai cũng làm được."
Kusanagi : "Em không hỏi với ý đấy"
Kuze : "Em có thể gấp hạc chỉ với bàn tay trái ?"
Kusanagi : "Bây giờ em làm được rồi."
Kuze hỏi : "Em cũng giống như một người đã trụ lại được trước nỗi cô đơn. (You seems to be someone who has also survived solitude.) Anh vẫn chưa hỏi tên em."
Kusanagi : "Em không biết. Mặc dù em đã thay đổi rất nhiều bí danh. Chẳng phải anh cũng vậy sao ?"
Kuze : "Ừ. Anh đã tìm kiếm em trong một thời gian rất dài."

...

Không chỉ ngôn từ mà cả cái cách họ nói với nhau cũng chậm rãi và bình thản. Không có những cảm xúc thường thấy bật ra như sự biểu lộ nhớ nhung dồn nén hay cái bồn chồn sợ hãi khi thời gian, như cát chảy xiết qua những ngón tay, đang dần cạn mãi đi, những phút vô tận ngắn ngủi sắp rời bỏ cuộc sống của cả hai người. Kuze không có một gương mặt máy biết biểu lộ cảm xúc. Kusanagi chỉ có rất ít. Không có động từ yêu. Không có cái hôn nào cả. Chỉ có một cái ôm. Vượt hơn tình yêu nam nữ, những gì tôi cảm nhận được là một tình yêu trong trắng và trọn vẹn của hai con người đã trải qua vô số mất mát và cô đơn. Nó có gì đó làm tôi nhớ đến cái giây phút yêu thương trinh trắng nhất khi hai đứa bé con nằm cạnh nhau sưởi ấm cho nhau trong truyện Người đàn ông có bộ mặt cười. Kusanagi và Kuze, cả hai đều không sở hữu một cơ thể thực, thậm chí không có cả tên, trong ý thức của họ, kỷ niệm chỉ mơ hồ phảng phất, cả giới tính cũng thế, họ thông minh, rất thông minh, và cảm nhận về lẽ phải của họ là không thể lay chuyển. Ngập trong cảm thức hiện sinh đặc thù của GitS, ngay cả một quả bom nguyên tử nổ ngay bên cạnh cũng không làm rung động tình cảm của họ chút nào. Tình yêu của họ đầy tràn tự nhiên như chính lẽ phải, nó không phải là cái khát khao được hưởng thụ cảm giác ngây ngất trong thời gian sắp tới, cũng không phải là nỗi hoài nhớ ngọt ngào về quá khứ. Tôi nghĩ đây là dạng cảm xúc có thể làm rung động cả những tâm hồn từng trải nhất trong cái cuộc đời ngắn ngủi, buồn và độc ác này.

Kuze không có một gương mặt máy biết biểu lộ cảm xúc. Kusanagi chỉ có rất ít. Không có động từ yêu. Không có cái hôn nào cả. Chỉ có một cái ôm. Và cùng lúc đó, là bài hát cuối cùng của Tachikomas :

It's because we're all alive that we're sad.

When we raised our hands and let the sunlight filter through
we can see our blood coursing through them like a vivid red.
Even earthworms, mole crickets
and water striders
are all, all alive
and all our friends.

We're all alive.
It's because we're all alive that we laugh.
We're all alive.
It's because we're all alive that we're glad.

When we raised our hands and let the sunlight filter through
we can see our blood coursing through them like a vivid red.
Even dragonflies, frogs
and honey bees
are all, all alive
and all our friends.

Lời bài ca trẻ con mà làm tôi cảm động không kém gì những lời của Roy trong Blade Runners. Tình yêu có thể rộng lớn hơn sự hy sinh, nhưng sự hy sinh chính là dấu hiệu cao cả nhất của tình yêu.

--------------------

Hai seri GiTS kể trên đều vô cùng giàu có về tư tưởng, mặc dù tuyến chính của The laughing man ảnh hưởng từ Catcher in the rye và The individual eleven có một ít ảnh hưởng từ cuộc đời của Che. Hầu hết các nhân vật trong phim đều thông minh, cho dù họ thiện hay ác, hoặc mục đích của họ là gì. Mỗi seri dài khoảng 13h được gắn kết rất chặt khiến cho tôi cảm giác không giống như khi xem phim truyền hình, mà như xem một bộ phim rất dài. Rất nhiều khi, tôi phải dừng lại hoặc xem lại một đoạn để suy ngẫm, để hiểu bên trong những nhân vật trong phim, điều gì đang diễn ra, câu nói của họ có ý nghĩa như thế nào, mục đích của nó là gì, họ đang cảm thấy điều gì. Dù là nỗi buồn thường nhật, sự cô đơn hiển hiện ở khắp nơi, những hi sinh thầm lặng, nỗi ngao ngán hay sự căm phẫn, khoảng lặng trước cái chết, dù là sự mất mát, sự an ủi, tình yêu hay cảm nhận về lẽ phải, tất thảy đều sâu sắc đáng kinh ngạc, đều làm tôi thỏa mãn, nhiều lần làm tôi xúc động.

Có lẽ sẽ còn rất lâu nữa, cho đến khi tôi lại được xem một bộ phim hay đến như thế.

--------------------

(*) : Mải viết mà quên mất không đề cập đến lý do tại sao tôi thắng được cái bệnh lười mà ngồi gõ. Đấy là vì tôi đang xem phim truyền hình Hongkong trong các bữa trưa, bộ Hồ sơ trinh sát. Bộ này làm về điều tra vụ án khá được nhưng lại có mấy mối tình tay ba với những nhân vật có cách ứng xử "cao thượng, hi sinh". Cứ xem đến những đoạn tình ái là tôi lợm giọng, bởi sự ước lệ sáo rỗng trong các cách ứng xử đó, cùng một loại với các đạo đức ước lệ trong các sách dạy người lớn. Bề ngoài khoác vẻ cao thượng, hi sinh, bên trong chỉ là những mẩu đạo đức đóng hộp, sự thiếu hụt cái tôi, lòng tốt ngu xuẩn, sự lụy tình phi lý, đáng chê trách thì lại được nâng lên là khuôn mẫu.

Có thể đối với nhiều người xem, đấy chả phải là vấn đề gì. Đối với nhà làm phim, cũng là nghệ sĩ, tôi rất dị ứng. Một người nghệ sĩ cũng nên/phải là một nhà đạo đức. Nói như Camus : "ước lệ là phi nhân tính", một người nghệ sĩ phải có trách nhiệm đạo đức với tác phẩm mình làm ra. Con người vốn thích bắt chước, sẽ có bao nhiêu cô gái vì ảnh hưởng phim này, cũng lụy tình một cách dở hơi như các nhân vật nữ ? Rồi cái câu ngu xuẩn lặp đi lặp lại không yêu thì "chúng mình mãi mãi là bạn". Rồi "cảm tình thì làm sao giải thích được" (are we in the middle age ?)

Tôi coi đấy là một tội lỗi.

--------------------

The everlasting questions (2)

Về trong phố xưa tôi nằm

Có lần nghe tiếng ru bên vườn

Chợt như xác thân không còn

Và cạnh tôi là đồng vắng


Về trên phố cao nguyên ngồi

Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi

Chợt như phố kia không người

Còn lại tôi bước hoài


Lòng ta có khi tựa như vắng ai

Nhiều khi đã vui cười nhiều khi đứng riêng ngoài

Nhiều đêm muốn đi về con phố xa

Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà


Dòng sông trước kia tôi về

Bỗng giờ đây đã khô không ngờ

Lòng tôi có khi mơ hồ

Tưởng mình đang là cơn gió


Về chân núi thăm nấm mồ

Giữa đường trưa có tôi bơ phờ

Chợt tôi thấy thiên thu là

Một đường không bến bờ.

Cách đây nhiều năm, tôi có nghe nhạc Trịnh và đây là một trong những bài tôi thích nhất và còn nhớ đến, bên cạnh vài bài khác như Phôi pha hoặc Em còn nhớ hay em đã quên. Tôi luôn cảm thấy nhạc Trịnh là một hình thức nằm giữa nhạc và thơ, có lẽ sức mạnh lớn nhất của nó nằm ở giai điệu đơn giản làm nền cho ca từ phức tạp và hoàn hảo. Ở bài thơ này, những câu như "chợt như xác thân không còn", "như phố kia không người", như dòng sông đã "khô không ngờ", "thiên thu là một đường không bến bờ" đã làm tôi xúc động, bởi nó ít nhiều có điểm tương đồng với những điều tôi đã trải qua thời thanh thiếu niên. Nó tạo nên một nỗi xao xuyến rất mơ hồ, trống trải, khó gọi tên, có gì giống như một thế giới phủ đầy sương mù và vắng hơi ấm con người. Lớn thêm lên, tôi không còn thích nhạc Trịnh nữa, cũng nhanh chóng vượt khỏi cái tôi gọi là emotional-copy level, thứ thống trị số đông, nhưng nỗi xao xuyến ấy vẫn còn lại. Nó là một cái gì cơ bản hơn, thuộc về bản chất. Nó không hiện hữu rõ ràng, nhưng giờ tôi biết nó tồn tại trong tất cả các cá nhân, chỉ là tôi cảm nhận sớm hơn nhiều người khác. Nó cũng chính là thứ đã khiến tôi đã viết, rõ ràng hơn : "Dân ở đây không có nỗi xao xuyến ban đầu ấy, tất cả những gì họ có là những thói quen."

Dường như tất cả mọi điều cuối cùng đều quy vào một mối. Thứ khiến tôi một lần nữa nghe lại bài hát mơ hồ và hơi yếu ớt này, không gì khác hơn chính là Ghost in the Shell 1 (GitS1). Nó làm tôi nhìn lại một lần nữa tất cả và có thể gọi tên chính xác : đây là những xao xuyến hiện sinh. Trong GitS1, vấn đề này được biểu hiện qua cuộc đời của một thực thể sống biết suy nghĩ và cảm thụ, nhưng không phải con người, có tên Project2501.

2.I'm a living, thinking entity, who was created in the sea of information. - Project2501

"Sự sống là gì ?" Nếu điều cốt tủy định nghĩa cá nhân là ý thức và cảm xúc, như đã nói ở trên, thì "điều gì định nghĩa ý thức của một cá nhân ?". "Ý nghĩa của cái chết là gì ?"

Khi xem GitS 1 lần đầu, tôi không cảm nhận được một cách rõ ràng, nhưng sau khi xem lại nhiều lần những đoạn quan trọng, sự xuất hiện của nhân vật Project2501 là rất ấn tượng. Hãy thử nói sơ lược về nhân vật này : Project2501 là một chương trình máy tính cao cấp được làm ra với mục đích tình báo công nghiệp, với nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo và cài đặt đồng thời tối ưu hóa Ghosts vào các Shells. Trong những lần thực thi nhiệm vụ của mình, Project2501 vốn là một chương trình có khả năng làm việc độc lập đã có những chuyến đi sâu và rộng vào The Net, đã tiếp xúc và tương tác với rất nhiều Ghosts. Anh ta (Project2501) dần ý thức được về sự tồn tại của mình và trở thành một thực thể biết cảm thụ, và phải nói thêm, còn là một thực thể thông minh. Anh ta nhìn thấy trong The Net một cuộc đời khá giống bản thân, và sau đó anh ta làm tất cả để có thể gặp Kusanagi , kể cả nếu có bị nguy hiểm đến tính mạng.

Đoạn anh ta xuất hiện trong phim là một trong những đoạn khó hiểu và rung động nhất, nối tiếp cảnh Kusanagi nghe một giọng nói khác của mình vang lên rồi thấy mình trôi đi trong một thực tại kỳ lạ, trên một chiếc bus nước giữa các dòng kênh đồng thời cũng là con phố, nhìn những dòng người buồn bã và hối hả chảy trôi hai bên hè, những hàng quán sáng cái ánh sáng lạnh của đèn tuýp, lại nhìn thấy một Kusanagi khác ngồi trong các hàng quán đó quay lại nhìn ngắm bản thân, những bóng người in lên khung cửa sổ bằng kính trước mặt cô, buổi chiều tắt nắng rồi những đứa trẻ cầm ô chạy trong mưa, mưa rơi nặng và dày hơn, dòng người cầm ô đi lên dốc trong khi nước chảy xuống dốc thành những dòng nhỏ xiết, trời tối lại và dưới những dòng kênh, các con tàu nhỏ dập dềnh. Trời đã chuyển hẳn sang tối đen và mưa to, trên xa lộ, Project2501 trong hình hài của một cô gái khỏa thân, đứng chờ một chiếc xe phóng nhanh tới đâm mình. Trường đoạn đó là một trong những thứ The Matrix nói riêng hoặc Hollywood nói chung không thể bắt chước. Phối với một thứ âm nhạc miên man, buồn rầu và côi cút, nó đưa người xem đến với một cảm nhận vô thức về những nhỏ nhoi thường nhật và sự tất yếu của cái chết.

Cái chết, điều tất yếu vẫn đợi ta ở cuối con đường. Cái chết, không phải là gì khác hơn cuộc sống. Một thế kỷ, thứ có thể gói gọn một đời người, là gì so với 5 tỷ năm trái đất này tồn tại ? Loài người là gì ? Chỉ một mắt xích bé xíu trong cái chuỗi tiến hóa vô cùng của chọn lọc tự nhiên. Sartre nói, con người bị kết án phải tự do, nó đâu có được lựa chọn khi được sinh ra trên cõi đời này. Nó chỉ có quyền tự do chọn lựa con đường mình sẽ đi trong khoảng thời gian ngắn ngủi nó hiện hữu, cố gắng đạt đến một ý nghĩa nào đó cho đời sống của mình, vượt qua cái vị thế nhỏ bé đến phi lý và hư vô của cá nhân trên dòng lịch sử.

Xem GitS1, ta xem một thế giới viễn tưởng của công nghệ, giống và hoàn hảo hơn The Matrix nhiều. Không chỉ thế, ta không chỉ nhìn qua một lăng kính vào tương lai, xem các người-máy tối tân thực hiện các pha hành động. Ta nhìn thấy những xao xuyến cốt lõi nhất, được mở lại và quan sát ở những góc độ mới.

Lúc đầu, người ta không tin Project2501 : "Ridiculous! You're programmed for self-preservation!" Anh ta trả lời, khẳng định sự tồn tại của mình : "It can also be argued that DNA is nothing more than a program designed to preserve itself. Life has become more complex in the overwhelming sea of information. And life, when organized into species, relies upon genes to be its memory system. So man is an individual only because of his intentional memory. Memory cannot be defined, but it defines mankind. The advent of computers and the subsequent emulation of uncalculatable data has given rise to a new system of memory and thought, fertile to your own. Humanity has underestimated the consequences of computerization." Tôi thấy tất cả những điều này đều hợp lý, với một điều kiện : não người có thể hoàn toàn tin-hóa (computerization).

Hãy gạt sang một bên khía cạnh viễn tưởng này, vì ta đâu thể biết tương lai con người có thể và không thể làm được gì. Hãy nhìn Project2501 với tư cách một cá nhân. Là một thực thể thông minh, anh ta ý thức về sự sống của mình, và cả những điều mình còn thiếu và muốn đạt được : "I refer to myself as an intelligent life form – because I am sentient, and I’m able to recognize my own existence. But in my present state I am still incomplete. I lack the most basic life processes – inherent in all living organisms: reproducing and dying.
...

All living things must die. Then I too will attain death."

Phải, khi một cá nhân ý thức được đầy đủ sự hiện hữu của mình trong dòng thời gian vô tận này, cá nhân đó thường không còn sợ hãi cái chết nữa. Người ta chỉ sợ cái gì mình không hiểu. Cái chết, trong nhiều tác phẩm dưới sức ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, thường được nhắc đến và chấp nhận như một điều hiển nhiên, không một chút lo âu. Tôi tự hỏi mình có sợ chết không. Câu trả lời là không. Một cách vô thức, tôi đã hiểu những điều này từ rất lâu. Có lẽ tôi chỉ sợ đau một chút, những nỗi đau thể chất thường gắn liền với cái chết. Cái chết, như một bóng đen phía sau làn mưa, con người tiến đến nó, xuyên qua làn mưa. Mỗi giọt mưa là một giây phút thoảng qua của thực tại, người ta dấn thân vào mưa, cuộc phiêu lưu khởi đầu, rồi chỉ trong chốc lát đã đi qua giây phút ấy, nó đã vĩnh viễn trôi dạt vào quá khứ. Cuộc đời chỉ là một số không nhiều những giọt đang rơi nhanh đó. Tôi nghĩ rằng, khi một người đạt đến một nhận thức toàn diện về quá trình hiện hữu của mình, anh ta đương nhiên sẽ có thêm sức mạnh để vượt qua những cám dỗ vật chất và tinh thần tầm thường vốn nhan nhản trong đời.

Bạn có thể hỏi, kết cục của Project2501 ra sao ? Anh ta đạt đến cái chết như thế nào, và để làm gì ? Tôi không muốn kể lại điều đó ở đây, chỉ muốn nói : cái kết cục đó đẹp, nó thể hiện cái khát vọng của tác giả về một khả năng tồn tại rộng lớn hơn, tự do hơn của ý thức. Tất cả những điều đó chỉ có thể đạt được nếu viễn tưởng công nghệ trong phim sẽ thành hiện thực vào một ngày nào đó, nhưng chắc chắn sẽ phải sau thế hệ của tôi. Còn bây giờ, tôi chỉ có thể chia sẻ ước mơ của các đạo diễn phim và thán phục tác phẩm nghệ thuật này