Danh sách Blog của Tôi
Hiển thị các bài đăng có nhãn beauties of this world. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn beauties of this world. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012
Angel
Face of an angel. Voice of an angel. Pure and loving heart.
And gladly, with the kind of "The flood" and "Happy place", now I know I'm gonna love her even more. The child is growing.
Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012
Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011
Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011
Ikiru (1952) - To live
There're still cats in rat's alley.
Có người nói : Kurosawa is Kafka going Kawabata. Tôi đồng ý cả hai tay ! Phải bao nhiêu chục năm nữa nền điện ảnh thế giới mới quay lại thời kỳ hoàng kim với những bộ phim chân thực và đẹp như thế này ?
Ikiru nghĩa là sống. Sống, vốn rất dễ mà cũng thật khó. Tất cả đều biết nhưng rất ít người làm được.
There's a little cat on a branch of a tree. It's late and it's time to eat. A big cat already cooked dinner, now it's looking for the little one. Junior P., where r u ? - Junior P. is actually sleeping, its mouth's open, ugly. Hear the call of the big one, it wakes and falls to the ground, dirty, moaning a little. Then it runs to home. But along the road there's a pond. Junior P. says hi to uncle Fish and remembers uncle Fish has some savings. The two go on to discuss over gold's uptrend for the next two hours. - And hic, stomach boils, I'm so hungry, this is actually a sad story. :p
Có người nói : Kurosawa is Kafka going Kawabata. Tôi đồng ý cả hai tay ! Phải bao nhiêu chục năm nữa nền điện ảnh thế giới mới quay lại thời kỳ hoàng kim với những bộ phim chân thực và đẹp như thế này ?
Ikiru nghĩa là sống. Sống, vốn rất dễ mà cũng thật khó. Tất cả đều biết nhưng rất ít người làm được.
There's a little cat on a branch of a tree. It's late and it's time to eat. A big cat already cooked dinner, now it's looking for the little one. Junior P., where r u ? - Junior P. is actually sleeping, its mouth's open, ugly. Hear the call of the big one, it wakes and falls to the ground, dirty, moaning a little. Then it runs to home. But along the road there's a pond. Junior P. says hi to uncle Fish and remembers uncle Fish has some savings. The two go on to discuss over gold's uptrend for the next two hours. - And hic, stomach boils, I'm so hungry, this is actually a sad story. :p
Because the blood in my veins, it’s a volcano of passion
Continue a string of loser-masochistic-unrequited latin love songs.
Who is your embrace going to deceive now?
Who are your lips going to tell lies to now?
To whom are you going to say “I love you” now?
And later in the silence you will give your body
You will spend the time on the pillow,
He will spend a thousand hours in your gaze
and he will spend the life loving you…
Who will it be?
And who’s gonna write poems and letters to you?
And who’s gonna tell you his fears and faults?
Who are you gonna let sleep on your back?
And later in the silence to whom will you say “I love you”?
Whose breath will you stop on your face?
Who will lose his way on your gaze?
And who’ll forget his life while loving you?
Who will it be?
Who will it be If it’s not me?
I look at myself and cry in the mirror and I feel stupid; ilogical.
And then I imagine you giving away the scent of your skin,
Your kisses, your eternal smile and even the soul in a kiss,
in a kiss goes the soul,
In my soul is that kiss that could have been.
Who are you gonna leave your aroma in the bed to?
Who’s gonna be left with the memory tomorrow?
To whom will the hours calmly pass through?
And then in the silence he’ll long for your body…
In whose face will time pass?
Who will spend a thousand hours on the window,
and who will lose his voice just calling you?
Who will it be?
Who will it be?
Who will it be If it’s not me?
I look at myself and cry in the mirror and I feel stupid; ilogical.
And then I imagine you giving away the scent of your skin,
Your kisses, your eternal smile and even the soul in a kiss,
in a kiss goes the soul,
In my soul is that kiss that could have been.
Who will it be?
-----------
Have always liked Marc Anthony's songs. Best latin voice in my opinion.
Who is your embrace going to deceive now?
Who are your lips going to tell lies to now?
To whom are you going to say “I love you” now?
And later in the silence you will give your body
You will spend the time on the pillow,
He will spend a thousand hours in your gaze
and he will spend the life loving you…
Who will it be?
And who’s gonna write poems and letters to you?
And who’s gonna tell you his fears and faults?
Who are you gonna let sleep on your back?
And later in the silence to whom will you say “I love you”?
Whose breath will you stop on your face?
Who will lose his way on your gaze?
And who’ll forget his life while loving you?
Who will it be?
Who will it be If it’s not me?
I look at myself and cry in the mirror and I feel stupid; ilogical.
And then I imagine you giving away the scent of your skin,
Your kisses, your eternal smile and even the soul in a kiss,
in a kiss goes the soul,
In my soul is that kiss that could have been.
Who are you gonna leave your aroma in the bed to?
Who’s gonna be left with the memory tomorrow?
To whom will the hours calmly pass through?
And then in the silence he’ll long for your body…
In whose face will time pass?
Who will spend a thousand hours on the window,
and who will lose his voice just calling you?
Who will it be?
Who will it be?
Who will it be If it’s not me?
I look at myself and cry in the mirror and I feel stupid; ilogical.
And then I imagine you giving away the scent of your skin,
Your kisses, your eternal smile and even the soul in a kiss,
in a kiss goes the soul,
In my soul is that kiss that could have been.
Who will it be?
-----------
Have always liked Marc Anthony's songs. Best latin voice in my opinion.
Once upon a time in Mexico (2003) - Irgendwann in Deutschland...
Malaguena salerosa (Những cánh hồng từ Malaga) - guitar solo intro
Không hiểu sao tôi rất có cảm tình với phim này, xem rất nhiều lần, dù nó thật ra không hẳn là một bộ phim hay. Có lẽ tôi đã thích nó cùng một cách với cách tôi thích nhạc latin, tôi đã từ chối sự thật về nội dung để giữ gìn nguyên vẹn cảm nhận về sự nồng nàn. Thêm nữa, Banderas vào vai một latin hero rất cool : tóc búi ngược ra sau, gẩy guitar, chơi shotgun nòng ngắn. Còn Salma Hayek vẫn luôn ngọt ngào, nóng bỏng. Ngắm hai người âu yếm trong khi nghe chất giọng ấm áp như khăn len mùa đông của Hayek hát Siente mi Amor là cả một niềm vui. Đấy cũng là một bài hát tôi thuộc dù không biết tiếng, giống như Shura no Hana và Belle.
Siente mi Amor
siente mi amor
siente mi amor
una historia sin tiempo
que no tiene fin
un amor como el nuestro
no, ni nunca podrá morir
quiero ser en tu alma
momento feliz
te amaré por siempre
viviré dentro de ti
en los días de dolor
siente mi amor
que vendrá con el viento
que vendrá con el sol
en los ojos de Dios
lejos de ti
me verás en sueños
sentirás mis besos
me oirás reír
si te sientes solo
y estás en silencio
piensa en mis caricias
y en nuestros secretos
quiero ser en tu alma
momento feliz
te amaré por siempre
viviré dentro de ti
en los días de dolor
siente mi amor
que vendrá con el viento
que vendrá con el sol
en los ojos de Dios
lejos de ti
me verás en sueños
sentirás mis besos
me oirás reír
me oirás reír
siente mi amor
siente mi amor
Quedate aqui
Stay here
In my arms
Stay here
For me,
And don't tell me you love me
Don't tell me you adore me
Just tell me you'll stay
A lifetime beside me.
Take me with you
Take me to your desire, to a place
Where I don't have to promise no more
Where I don't have to lie no more
Where I can exist only for you.
And don't ask me if I love you.
don't worry about what I think
For I'm completely yours, my own way.
When I want to be your dream
I demand more than your kisses
I want to give you all what I feel and more than that.
Carolina: What do you want in life?
El Mariachi: To be free...
Carolina: Simple.
El Mariachi: No.
Lang thang từ thị trấn này đến thị trấn kia, đánh đàn trên nóc các lâu đài cổ, thực hiện một cuộc trả thù đẫm máu, quyến rũ một người đẹp trá hình chủ tiệm sách buôn thuốc phiện. Spirited away.
Không, chả đơn giản chút nào.
Sad theme - composed by Robert Rodriguez
La dolce vita (1960) - She is by the sea
Even the most miserable life is better than a sheltered existence in an organized society where everything is calculated and perfected.
What can I say ? About this "The sweet life" ? Or should I say, The unbelievably bitter, unescapable numbness ?
Despite its name, maybe it is the darkest art film I've seen. Yet meaningful, and beautiful, inarguably.
It makes me tremble.
-Could I hold on to the truth, forever ?
-Of course. Have a little faith in me.
----------
imdb : 8.1 Not important. Some says this is the best film ever created, along with Eight and a half. I don't agree, but I understand them perfectly.
-----
Bonus : Anouk Aimee, really like her kind of beauty
What can I say ? About this "The sweet life" ? Or should I say, The unbelievably bitter, unescapable numbness ?
Despite its name, maybe it is the darkest art film I've seen. Yet meaningful, and beautiful, inarguably.
It makes me tremble.
-Could I hold on to the truth, forever ?
-Of course. Have a little faith in me.
----------
imdb : 8.1 Not important. Some says this is the best film ever created, along with Eight and a half. I don't agree, but I understand them perfectly.
-----
Bonus : Anouk Aimee, really like her kind of beauty
The lady of them all
Giờ mới biết cô này là một diễn viên nổi tiếng của Nhật, Yukie Nakama. Nàng Oboro đẹp như tuyết, kiên cường mà cam chịu của Shinobi : Heart under Blade (2005). Viết review về film này cũng lâu rồi. Trong film này còn có em Erika Sawariji trông như quả đào mọng nước, một diễn viên trẻ cũng khá nổi.
Bonus một cái tranh về Oboro, Shinobi's concept art.
Cô giáo nuôi dạy hổ Yankumi đầy nhiệt huyết của Gokusen (2002). Tv-series này thì mới xem. Yukie đóng vai một cô giáo mới ra trường, làm chủ nhiệm một lớp toàn nam sinh cá biệt, cặn bã của trường.
Xem nhiều mới biết thật ra con gái Nhật xinh nhiều hơn hẳn Hàn Quốc, chỉ vì bọn nhật thứ nhất là không thích đàn bà phẫu thuật thẩm mỹ, thứ hai không muốn mở rộng ra các thị trường quốc tế (ở thời đại bây giờ, tư tưởng bế quan tỏa cảng này quả thực khó hiểu), nên nói chung người nước ngoài khó biết nhiều về các celeb Nhật bản.
--------
(Không liên quan) Ở đây thì chắc chẳng bao giờ có một cái như thế này :
Moulin Rouge ! (2001) - Love is worth everything we pay
Một film nằm trong top 5 của tôi. Tôi không nhớ đã xem bao nhiêu lần, có lẽ chỉ ít hơn Vô gian đạo. Lần đầu tiên tôi xem Moulin Rouge, tôi nghĩ làm film musical được đến thế này là cùng. Cảm xúc giống như khi tôi xem The dark knight, nghĩ làm film anh hùng truyện tranh thì đến thế này là cùng. Nhưng lần thứ hai xem lại siêu phẩm người dơi mà imdb rate trên 9 điểm ấy, nó đã mất đi ánh hào quang hành động của lần đầu, nó tầm thường hẳn đi với chủ nghĩa anh hùng cá nhân mị dân đặc trưng cùng với triết lý thiện - ác ba xu của Hollywood. Trong khi ấy, cứ mỗi lần xem Moulin Rouge, tôi, và rất nhiều người khác nữa, lại khám phá ra mình vẫn có thể xúc động đến thế về một câu chuyện đã gần như thuộc nằm lòng, bởi để làm rung động trái tim con người, có lẽ không cần gì nhiều hơn là một thứ tự nhiên, đơn giản và trong sạch, như tình yêu.
Xem đã nhiều lần thế, vậy mà không biết bắt đầu từ đâu. Thôi thì trăm nghe không bằng mắt thấy, hơi tiếc là các clips trên youtube chất lượng hình ảnh và âm thanh không được tốt :
One day I'll fly away
Your Song
Không cần phải cố gắng nhớ lại hết những bộ phim mình đã xem, tôi có thể khẳng định với bản thân rằng Nicole Kidman của Moulin Rouge là cô gái đẹp nhất tôi từng thấy. Cô xứng đáng vào vai "viên kim cương" của Cối xay gió đỏ. Về ngoại hình, tất nhiên rồi, ai cũng có thể thấy vẻ đẹp theo kiểu glamorous lady của cô : cao, mảnh mai, mềm mại, làn da trắng, khuôn mặt đẹp, một nàng thiên nga thực sự. Nhưng không chỉ có thế, ở Nicole Kidman, nhất là Nicole của cái năm 2001 này, có những thứ khiến cô vượt xa những người đàn bà đẹp khác. Đấy có thể nói là sự viên mãn của một đóa hoa đã nở nhưng chưa quá lâu, đang ở trong thời kỳ đẹp nhất. Ở tuổi 34, cô đã khác hẳn Nicole Kidman sexy của Dead Calm (1989). Vầng trán rộng và cao, gương mặt thông minh. Là một người phụ nữ ý thức rõ rệt về nhan sắc của mình, trên mặt và trong ánh mắt của cô không hề có dấu vết của sự kiêu ngạo, lạnh lùng rất khó che dấu ở những cái mặt nạ rỗng tuếch khác, đặc biệt phổ biến ở những người đẹp châu á với vốn văn hóa thấp. Giống như Audrey Hepburn, cô là một người đàn bà lộng lẫy và gợi cảm chết người, vậy mà sắc đẹp ấy không hề tạo nên ở những người đàn ông những suy nghĩ dung tục, thèm khát. Hẳn là bởi chiều sâu tâm hồn của cô. Mặt khác tôi nghĩ mặc dù Nicole nữ tính hơn Audrey Hepburn, cô cũng hơn cả về sự ấm áp. Vào vai Satine, một kỹ nữ luôn hát "Diamond is a girl's best friend", hay "I am a material girl, in a material world", cô biểu đạt ra vô số những sắc thái cảm xúc khác nhau, một khả năng chỉ có ở những người EQ rất cao. Giọng hát của cô đáng yêu đến không ngờ. Cô làm người xem nhanh chóng nhận ra dưới cái vỏ thực dụng của Satine là một cô gái thông minh, hài hước, dễ gần, và cô vẫn gìn giữ được hy vọng về một tình yêu chân chính, gìn giữ niềm tin ấy với một sự dịu dàng và nhẫn nại rất cảm động. Nicole Kidman là một viên kim cương, còn Satine là thời khắc đẹp nhất của viên kim cương ấy. Tom Cruise là một thằng ngu.
Elephant love medley
Ewan McGregor cũng là một diễn viên tài năng. Cái mà gương mặt không được đặc biệt cho lắm của anh thiếu, anh bù lại bằng diễn xuất. Anh hát rất hay, hơn cả Banderas. Vào vai Christian, anh hóa thân thành một nhà văn trẻ, tài năng, nhưng có phần ngây thơ trẻ dại, luôn thể hiện một khát khao tuyệt đối với tình yêu. Nhân vật này lại có cả khía cạnh quyến rũ bất ngờ của một người đàn ông biết mình muốn gì. Nicole Kidman và Ewan McGregor đã tạo nên một cặp đôi có thể nói là đẹp nhất trong lịch sử điện ảnh. Khi một người hiện diện trên màn ảnh, khán giả có thể cảm được tim người kia đập nhanh hơn. Người ta không còn thấy Nicole và Ewan, mà chỉ thấy Satine và Christian, hai kẻ đang yêu. Sự say mê khi ở cạnh nhau, sự đau đớn khi bị chia cắt, hạnh phúc và tuyệt vọng, cái chemistry giữa hai người vượt xa những mối tình trên film nổi tiếng khác như trong Titanic, Phantom of the opera, thậm chí hơn cả The english patient, Shakespeare in love. Công này phải kể đến đạo diễn Baz Luhrmann, người không thành công lắm hai film tình cảm khác là Romeo + Juliet (1996) và Australia (2008).
Come what may
Một bài original của Moulin Rouge. Nó còn có tên khác là "Lovers' secret song".
El Tango de Roxanne
Bài này vũ đạo quá đẹp, quay tốt, hay hơn nguyên gốc.
The show must go on
Come what may (final)
Sure looks like it, but it's not a happy ending. Tears flow afterward. Then you feel, you have a heart and a soul. Isn't it a good feeling ?
-------------
Note :
Không thể tin nổi là đây lại là một trong những film bị review 1 sao (thấp nhất) nhiều nhất trên imdb, với hàng loạt tính từ như là giả dối, rởm đời, điếc tai, lộn mửa, copycat, trò xiếc, với những người bảo rằng họ không thể chịu nổi phải bỏ về sau vài chục phút, phí hoài một khoảng thời gian quý báu trong cuộc đời họ cho một bộ phim "dở nhất" từng được trình chiếu. Tất nhiên, số review 10 sao còn nhiều hơn nhiều, rốt cục Moulin Rouge đứng ở rating 7.7, quá thấp so với giá trị thật.
Hãy cho họ một cơ hội trước khi kết luận họ là những đứa bệnh hoạn đói khát sự chú ý. Những lý do chính để họ chê film này là gì ? Thứ nhất, họ nói Moulin Rouge không có tính original, cóp nhặt mỗi chỗ một tí ghép lại thành film. Lý do này ngu không thể tả nổi, thử kể một film musical mà nhạc sĩ phải sáng tác mới tất cả các bài hát ? Không tồn tại. Nếu nói thế thì tất cả các film musical như Phantom of the opera, Mamma Mia v..v... đều là thứ đáng vứt vào sọt rác, vì chả có bài nào mới cả ; Quentin Tarantino sẽ là một thằng thiểu năng chỉ biết xào lại các thứ có sẵn. Vấn đề là người ta biết lấy cái gì, lấy bao nhiêu, làm mới và đặt những thứ đó trong một sự hài hòa thế nào. Moulin Rouge đã kết hợp mọi thứ hoàn hảo, bắt đầu bằng bản cover lại Nature boy của Nat King Cole, tiếp đó là các bài hát thuộc nhiều phong cách và thể loại khác nhau. Có thể kể ra : The sound of music, Lady Marmalade, Rythm of the Night, Smells like teen Spirit (Nirvana), Material Girl, Like a Virgin (Madonna), Your Song (Elton John), Diamonds are a girl's best friend (Marilyn Monroe), Roxanne (The police), và The show must go on (Queen). Và thật ra các bài hát trong Moulin Rouge khác khá xa nguyên bản, nhiều khi có sắc thái hoàn toàn mới (ví dụ bài The show must go on), thậm chí hay hơn (El Tango de Roxanne, One day I'll fly away), và đương nhiên cũng có những bài original tuyệt vời như Elephant love medley, Come what may. Trong Moulin Rouge, số lượng bài hay rất nhiều lại đa dạng, vì thế người xem không có cảm giác bị nghe đi nghe lại một giai điệu, điều thường thấy ở các musicals khác.
Thứ hai, họ nói Moulin Rouge màu sắc quá đậm, tiết tấu quá nhanh, sử dụng kỹ xảo máy tính quá nhiều. Cái cuối cùng là điêu toa, còn hai cái đầu thì giống như chê một cô rằng cơ thể con gái gì mà quá mềm mại, nhanh nhẹn và biểu cảm. Một trong những lý do khiến Moulin Rouge hay hơn hẳn các film khác chính là tiết tấu nhanh của nó, đưa khán giả từ cảm xúc này đến cảm xúc khác không ngừng nghỉ, không một phút buồn chán.
Thứ ba, họ chê mối tình trong film là trẻ con, nông cạn. Chắc những người này chả có mối tình nào khi còn trẻ. Những kẻ mòn mỏi không còn cảm thấy gì, không có khả năng rung động. Những kẻ tự hào mình già cỗi và vô cảm. Christian và Satine đều mới chỉ hơn hai mươi tuổi, bối cảnh trong film là năm 1899, châu Âu vẫn ở trong thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn. Khi ấy chuyện một chàng trai trẻ yêu một cô gái xinh đẹp từ cái nhìn đầu tiên là quá bình thường. Chúng ta đã được xem nhiều đến gần như thuộc lòng những mối tình kiểu này. Dù vậy, tình yêu của hai nhân vật chính thuyết phục đến từng ánh mắt, từng từ từng âm được hát ra. Khách quan mà nói, Moulin Rouge đã đưa vẻ đẹp của những mối tình đặc trưng của thời kỳ đó lên một tầm cao mới.
Kết luận : cái gì đẹp, hay thì cũng thế cả thôi, luôn có những kẻ xông vào bôi nhọ để chứng tỏ cái tôi. Những kẻ bệnh hoạn đói khát sự chú ý, không hơn.
Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2011
Kill bill Vol.1 (2003) - Revenge is a dish best served cold.
Film đầu tiên của Quentin Tarantino mà tôi xem (2003). It was love at first sight. Hồi đó tôi chưa biết cái concept of revenge mà Quentin sử dụng là lấy từ Lady Snowblood, nhưng không sao, quan trọng là cái concept ấy trái ngược với thứ cliche' cũ mèm vẫn tồn tại lâu nay : tha thứ tốt hơn thù hận. Tarantino làm một bộ phim trả thù, cho ta thấy sự trả thù có thể đẹp, lạnh, tỉnh táo. Như múc một bát con từ xô máu của kẻ thù, lấy bút lông chấm vào, chậm rãi vẽ một đóa hoa. Đừng để những kẻ ngu si nhồi vào đầu bạn rằng mọi sự trả thù đều kết thúc bởi sự trống rỗng. Khi nó thành công, con người ta thấy thỏa mãn. Thậm chí khoa học, bằng cách đo các hormone, đã chứng minh điều đó.
Xuất thân chỉ là một sinh viên làm việc ở cửa hàng cho thuê đĩa, Quentin Tarantino bây giờ đã là một tượng đài về đạo diễn film. Ấn tượng đầu tiên của tôi về ông là thẩm mỹ cực tốt. Quentin có vốn văn hóa rất lớn, nhất là về điện ảnh, trải rộng qua tất cả các thể loại, thời kỳ và các quốc gia khác nhau. Thật ra cái gọi là original trong film của Quentin không nhiều. Cái tài của ông là khả năng kết hợp những cái hay, những cái kinh điển được nhiều người hoặc ít người biết đến một cách tài tình, hợp lý với một cốt truyện thường là đỉnh cao, lời thoại tinh tế, cái này thì hoàn toàn do ông nghĩ ra. Film của ông thường có kết cấu chương hồi, bạo lực nhưng không nặng nề, đậm chất hài hước đen, nhạc film phù hợp tuyệt vời, mọi thứ đều rất cool, và không kitsch một chút nào. Không có một chút dấu vết nào hết. Xem film của Quentin người ta luôn cảm thấy mình không những được thưởng thức, mà còn được tôn trọng. Bởi ông chú ý đến từng chi tiết, dù là nhỏ nhất. Thẩm mỹ và ảnh hưởng của Quentin cao đến mức mà những thứ ông đưa vào film thường thể hiện một giá trị nghệ thuật vượt lên trên giá trị ban đầu của nó, lúc chưa đưa vào. Đặc biệt là đối với diễn viên. Tôi còn nhớ Diana Kruger, trời ơi, cái em Helen của Troy cứng quèo đó, thế mà vào trong Inglorious Basterds thành ra một cô điệp viên có chiều sâu quyến rũ. Hoặc khi tôi xem Planet Terror, nhìn cái em nữ chính Cherry Darling xinh đẹp diễn hay này quen quá mà sao không nhớ nổi đã thấy ở đâu, cuối cùng hóa ra là em Rose McGowan đóng vai Paige môi đỏ quạch trong Charm, ặc. Hay một số diễn viên lâu năm nhưng chỉ tầm tầm như David Carradine, Lucy Liu, Daryl Hannah (Blade Runner), Michael Madsen dưới sự chỉ đạo của Tarantino đều diễn có bản sắc hơn hẳn. Girl, you'll be a woman soon, bản cover của Urge Overkill, sau khi được Quentin dùng làm soundtrack trong Pulp Fiction, lập tức trở thành hit. Và tất nhiên là Uma Thurman, cô dâu trả thù của chúng ta, hay Mia của Pulp Fiction, một ví dụ điển hình cho việc nội tâm thông minh sáng láng có thể làm khuôn mặt người phụ nữ xinh đẹp lên gấp nhiều lần.
Trở lại với Kill Bill, Quentin nói ông làm film này dựa trên cảm hứng từ Lady Snowblood (Shurayukihime, 1973). Meiko Kaji thật tuyệt, có gì hơi giống Tiểu Long Nữ, băng thanh ngọc khiết, và thay sự vô tư bằng một lòng hận thù trắng toát. Một cuộc đòi nợ máu lạnh lùng, loại bỏ hết những đa cảm và triết lý nhân đạo trưởng giả thịnh hành của nhà thờ châu Âu. Bài Shura no Hana hay Flower of Carnage ở cuối film chính là cách Quentin bày tỏ sự kính trọng với bậc tiền bối. Thậm chí có thể coi Kill Bill vol 1 gần như là một film samurai, với hai chapter lớn là chuyện Beatrix Kiddo (Uma Thurman) đến gặp Hattori Hanzo (Sonny Chiba) xin gươm và cuộc tàn sát băng đảng yakuza dẫn đầu bởi O-ren Ishii (Lucy Liu) ở Ngôi nhà của những chiếc lá xanh.
Trước đó, có một chapter con đáng được nhắc đến : quá khứ của O-ren Ishii. Chapter này được dựng bằng anime, kết hợp với bài The Grand Duel của Luis Bacalov. Nó tăng thêm chiều sâu cho nhân vật của Lucy Liu, thay đổi không khí cho tuyến film và khán giả được có một bữa khai vị với những nhát thọc kiếm xuyên qua lồng ngực, đạn bắn vỡ chân, vỡ đầu, gươm xẻ đôi người, máu phọt như pháo hoa để chuẩn bị tâm lý cho cuộc tắm máu cuối phim.
Viên ngọc của Kill Bill vol 1 là nửa cuối của film, cuộc chiến giữa the Bride và băng O-ren Ishii. Có thể nói là phong cách tuyệt vời, stylish từ đầu đến cuối, không chê vào đâu được. Khởi đầu với đoạn phóng xe máy phân khối lớn, mặc bộ đồ bó sát vàng sọc đen của the Bride để tưởng nhớ Lý tiểu Long, đoạn giới thiệu Sofie Fatale (Julie Dreyfus), người phụ nữ xinh nhất film sẽ bị chặt cụt hai tay như một con gà (bởi trong film của Quentin, bạn sẽ ko gặp phải cái bullshit thường thấy trong các film hành động khác : em nào xinh, anh nào đẹp giai thì cũng là vô địch), đến nội thất của Ngôi nhà của những chiếc lá xanh, ban nhạc 5,6,7,8s, những vệ sĩ trẻ đeo mặt nạ đen của Ishii, em Gogo Yubari điên loạn và sadist của Battle Royal. Uma Thurman có cơ thể hơi dài rợ nên động tác đánh kiếm chưa hẳn là tuyệt vời, nhưng đạo diễn đã chăm cho cảnh này đủ để nó không có một sơ sót. Máu được làm cho phụt ra theo một cách phi thực tế nhưng đem lại cảm giác thỏa mãn. Người xem đắm chìm vào cuộc chiến khát máu của the Bride, cái cách cô chặt khoảng năm chục đối thủ thành nhiều khúc, nhiều nhất là cẳng tay cẳng chân. Móc mắt, chẻ đôi người, chặt bay đầu v..v... đều có cả. Cái cách the Bride đứng lên thành lan can tầng 2 và quát đống cơ thể ở dưới : ai còn sống thì được phép giữ mạng, nhưng tay chân đã bị cắt phải để lại vì nó đã thuộc về tao, thật giữ tợn và kiêu hãnh, quá ấn tượng.
Cảnh cuối là màn đấu gươm - final Boss - chậm rãi, dịu dàng trong khung cảnh một khu vườn sau nhà phủ tuyết, mang đậm hương vị nhật bản. Lucy Liu mặc kimono trắng, tóc búi, đi guốc, cầm thanh gươm không đốc. Không gian yên lặng thanh bình, có tiếng nước chảy và tiếng ống tre đập xuống đều đều. Một cuộc đấu cuối film xứng với mong đợi, không kéo dài, đầy tôn trọng, tàn độc, nên thơ.
Tôi vốn thích các film samurai, cả điện ảnh lẫn anime. Tôi xem Kill Bill vol 1 cũng phải được 5,6 lần. Tôi đã hi vọng nhiều ở vol 2, nhưng sau đó thất vọng. Quentin Tarantino không muốn làm vol 2 theo style của vol 1 nữa, mà chú trọng vào khắc họa tính cách các nhân vật hơn. Hôm nay viết cái này mới biết vol 3 đang được chuẩn bị, sẽ ra mắt vào năm 2014. Không hiểu style của vol 3 sẽ là như thế nào, hai mẹ con song kiếm hợp bích ? Hay song súng ? Trước mắt, có 2 film khác của Quentin, đó là Machete và Death Proof 3D.
----------
imdb : 8.2 (bằng Into the wild, chết cười.)
Pierrot le fou (1963) - Sometimes, life is beautiful, but it will always be sad.
Một trong những film hay nhất của trào lưu avant-garde (*) cinema nói chung và French New Wave (**) nói riêng.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về Pierrot le fou : đây rõ ràng là một phim pháp. Phim được quay với màn ảnh rất rộng, phim dài, tiết tấu chậm lại càng thấy dài hơn và khuôn hình thường luôn ngập tràn ánh nắng. Lại thêm một film rất không Hollywood với những góc quay được giữ rất lâu, cách quay đặc trưng của châu Âu, sự chậm rãi trong từng chi tiết làm nhiều lúc phim cứ như những bức tranh nối tiếp nhau. Lời dẫn chuyện song song của giọng nam và giọng nữ xen kẽ như một bài thơ hay đúng hơn là một điệu nhạc chậm rãi nên thơ.
Đạo diễn Jean-Luc Godard muốn đây là một bộ phim của các mảnh nhỏ, đẹp của nghệ thuật hơn là một kết cấu. Một bộ phim gần với một bức tranh hoặc một bản nhạc hơn là một tiểu thuyết. Vì thế bản thân nội dung hay nói đúng hơn là tuyến truyện của film không có vai trò quá quan trọng. Khởi đầu với thành phố, những cảnh quay trong nhà, những buổi tối, ta thấy hai nhân vật chính : Marianne và Ferdinand (hay Pierrot như cách cô vẫn gọi) sống trong một cảm thức tù đọng, ớn ngán xã hội trưởng giả tư bản. Pierrot đã có vợ con, anh đọc sách rất nhiều, có thể thấy sự cô đơn của anh ngay trong cảnh gần đầu film : anh quote cho con gái nghe về cuộc đời của họa sĩ Velazquez anh đang đọc trong sách, thứ mà cô bé làm sao hiểu nổi :
"The world he lives in is a sad one. A degenerate king, sickly infantes, idiots, dwarfs, cripples, clownish freaks dressed as princes, whose job was laugh as themselves, and amuse a court that lives outside the law, caught in a web of etiquette, plot and lies, bound by the confessional and their own remorse. Outside the gates, the auto-da-fé and silence... Listen to this, little girl. A spirit of nostalgia prevails, yet we see none of the ugliness or sadness, none of the gloom or cruelty of this crushed childhood. Velázquez is the painter of the evening, of open spaces and of silence, even when he paints in broad daylight or in a closed room, even with the din of battle or of the hunt in his ears. As they seldom went out during the day, when everything was drowned in torrid sunshine, spanish painters communed with the evening. Beautiful, isn't it, little girl?"
Velazquez thì có thể giao cảm với những buổi tối, nhưng Pierrot thì không. Anh đến các buổi "chiêu đãi" của giới nghệ sĩ và cảm thấy tất cả những người xung quanh đều đần độn đến nỗi anh bắt đầu nghi ngờ ngay cả trí tuệ của bản thân mình. Anh có thể làm gì ? Còn gì để làm, ngoài việc chạy thật xa với Marianne ?
Marianne's voice : A Season in Hell.
Pierrot's voice : Love must be reinvented.
Marianne's voice : Real life lies elsewhere.
Marianne's voice : Countless centuries fled,
Marianne's voice : into the distance, like so many storms...
Pierrot's voice : I held her close,
Pierrot's voice : and began to cry...
Marianne's voice : It was our first,
Marianne's voice : our only dream.
Từ đó, cách quay của film thay đổi. Khung hình không bao giờ thiếu ánh sáng nữa, cũng như cuộc sống trên con đường trốn chạy xuống miền Nam nước Pháp của đôi tình nhân giờ đã có tự do. "Life may be sad, but it's always beautiful." Không chỉ là một cuộc trốn chạy khỏi nhà tù cuộc sống thường nhật, mà hơn thế, hai nhân vật của chúng ta còn từ chối cả những thành tố cơ bản của đời sống đó, ví như sự sở hữu. Họ đốt tiền, theo nghĩa đen, họ quẳng vali tiền xuống biển để sau đó đi mua vui cho khách du lịch kiếm vài đồng, họ bắn cháy xe ô tô để đi bộ vượt qua những ngọn đồi, những đồng cỏ xanh mướt, những trang trại nặng trĩu cam và táo, họ ăn cắp và lại phi xuống biển một cái xe bạc triệu khác, rồi sau đó đi chân trần trên bờ biển, hoàn toàn không nghĩ đến những giá trị vật chất, không thèm sợ hãi ngày mai.
Tôi chưa bao giờ thích các phụ nữ "đàn bà", đàn bà ở đây hiểu theo nghĩa một tính từ chỉ sự thất thường, hành động cảm tính, suy nghĩ phi lý tính, thay đổi tâm trạng như lá khô trong gió, thích sử dụng vui đùa cái vũ khí tối thượng mang tên quyền lực nữ tính của mình. Marianne là một cô gái như vậy. Nhưng phải thú nhận rằng Marianne là một cô gái mà người ta không thể không yêu. Vai này được diễn bởi Anna Karina, vợ của Godard. Cô quá đẹp, cái đẹp mượt mà, sinh động của một con cáo, thân hình của cô gái pháp thon nhỏ, duyên dáng nhưng đầy sức sống, đôi mắt thông minh, ranh mãnh khó lường, có lúc lại si tình, mơ màng. Cũng giống Pierrot, ở cô có khía cạnh hiện sinh. Cô chả cần gì, tiểu thuyết, nhạc hay thậm chí là cô cũng chả cần tiền. Cái cô muốn, là sống. Mà sống đối với cô lúc này là yêu Pierrot của cô, là đi mãi cho đến những bờ biển địa trung hải, là hát cho anh nghe, đọc thơ với anh, diễn những vở kịch nho nhỏ với Pierrot, người cứ luôn không chịu chấp nhận cái tên ấy. Cô mong muốn mãi mãi được phiêu lưu. Khi Pierrot hỏi cô "You'll never leave me ?". Cô trả lời ngay : "Of course I won't." Pierrot hỏi lại "Of course ?" Marianne nhìn anh và nói : "Yes, of course." Rồi cô nhìn xuống bàn. Rồi nhìn thẳng vào người xem. Khuôn mặt cô rất đẹp. Rồi cô nhìn người yêu và nói lần nữa : "Yes, of course.". Rồi cô nhìn xuống bàn. Và lại nhìn vào ống kính. Lần này thì chỉ còn mỗi Pierrot là không hiểu cô đang nói dối, và người xem (hay tôi) cảm thấy rất khó tả, cái cảm giác có lẽ gần giống khi ta được chứng kiến một phút huy hoàng rực rỡ mà trong lòng đã hiểu rõ nó sẽ nhanh chóng lụi tàn, cái ta đang giữ trong tay rồi sẽ chuội đi như nắm cát, chỉ lại một sự hối tiếc, một sự tất yếu không gì ngăn chặn được. Một cảnh tuyệt đẹp của Anna Karina.
Ferdinand, hay Pierrot (the Crazy) như cách Marianne gọi, lại là đại diện cho lý tính. Anh suy tưởng trong hầu hết thời gian film. Anh đọc sách và nghe nhạc theo tỉ lệ 50 quyển sách một đĩa nhạc. Anh nói anh không bao giờ có nổi một cuộc trò chuyện có nghĩa với Marianne bởi vì ngôn từ của anh là ý tưởng (idea), trong khi ngôn từ của cô chỉ toàn là cảm xúc (feelings). Anh cô đơn, anh tuyệt vọng (despair) (***), anh chỉ còn tin vào văn học. Anh mang theo một quyển notebook, anh viết, anh quote các câu văn và thơ như thể đó mới là nhu cầu chính của anh trước cả ăn, ngủ và làm tình. Khi bị Marianne bỏ rơi, ngôn từ là mảnh đất duy nhất mà anh có thể trú ngụ :
He still keeps a diary. For words have the power to disperse the shadows from around the objects they name. Even if it's compromised, in everyday life, language often retains only what is pure.
Pierrot và Marianne, nam tính và nữ tính, lý trí và cảm xúc lúc quyện vào nhau, lúc rời xa nhau song hành xuống miền Nam. Trên nền sợi dây phiêu lưu đơn giản này, Godard bắt đầu treo vào những bài thơ, những đoạn văn, những bài hát, những vở kịch nho nhỏ, những mỉa mai chính trị, những câu chuyện cười ý nhị, những khung hình chậm như những bức tranh. Phải nói rằng đây là một sợi dây biết hát. Tôi thích tất cả những khung hình có Marianne. Mọi thứ về cô đều hiển hiện nữ tính : khi cô nhảy, hát, nói, cả khi cô giết người. Chưa bao giờ tôi xem một bộ phim mà trong đó có cô gái giết người đẹp nên thơ như thế. Không một chút vẩn đục của bạo lực. Cảnh "đánh nhau" giữa Marianne dùng kéo và tên gangster lùn cầm súng là một trong những cảnh ấn tượng nhất của phim này, dù chỉ diễn ra có vài giây. Karina đứng giữa hai bức tranh của Picasso, giơ cái kéo về phía ống kính, lưỡi kéo và hai ngón tay cô tạo thành hình một con chim và khi cô cắt, con chim bắt đầu bay. Cô là sức sống của cảm xúc bên cạnh một Pierrot thông minh sáng suốt chấp nhận những giới hạn, những xiềng xích không thể cởi bỏ của sự hiện hữu.
Như là cái chết.
Ở cuối phim, có một cảnh rất đẹp. Sau khi Pierrot giết Marianne và tự sát, camera quay về phía biển, biển rộng lớn và xanh ngắt. Lời dẫn chuyện cuối cùng :
Marianne's voice : It's ours again.
Pierrot's voice : What is ?
Marianne's voice : Eternity.
Pierrot's voice : That's just the sea, gone...
Marianne's voice : With the sun.
Pierrot le fou là một tác phẩm kinh điển của điện ảnh pháp. Tôi nghĩ là không quá lời khi nhiều người nhận xét rằng đây là một bộ phim đã vượt qua cả định nghĩa của điện ảnh, nó còn là văn học, âm nhạc, hội họa, là thơ, nó chứa đựng cả một thời kỳ nghệ thuật với nhiều phong trào khác nhau. Godard muốn làm một bộ phim nghệ thuật, và ông đã đạt được nghệ thuật.
---------------
imdb : 7.6 ...what a stupid crowd.
---------------
(*): Nói qua một chút về avant-garde : là một từ tiếng pháp của từ tiếng anh vanguard, tạm dịch ra tiếng việt là tiền phong (hoặc tiền vệ ?). Trào lưu này chủ yếu diễn ra trong thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại (modernism), vào giữa thế kỷ hai mươi. Những người theo avant-garde là những nghệ sĩ tách riêng ra khỏi trào lưu chính thống (mainstream), đối lập với nó, chống đối nó, cái ở đây phải hiểu thêm là trào lưu chính thống thương mại (commercial mainstream). Cải cách công nghiệp hóa trên diện rộng trong thời kỳ này đã dẫn đến việc thương mại hóa nghệ thuật, hình thành cái mà cho đến ngày nay vẫn tồn tại, Mass Media. Nó phục vụ cho mục tiêu cuối cùng và tối thượng là lợi nhuận, chứ hoàn toàn không vị nghệ thuật. Lợi nhuận ở đây không chỉ hiểu đơn giản là tiền, mà là tất cả những thứ có thể chuyển hóa thành lợi ích vật chất và dục vọng, ví dụ như độ nổi danh (popularity). Những sản phẩm của Mass media mang tính kitsch : không có từ tiếng việt tương ứng, nhưng có thể hiểu là sến, nông cạn, trang sức, giả tạo. Nó thường vay mượn một số biểu hiện bên ngoài của nghệ thuật vị nghệ thuật thực sự, ví dụ như chính của các tác phẩm vanguard, bên trong nó trống rỗng, không có chiều sâu, thường là vô giá trị. Kitsch cũng là một trào lưu, và tuy đã có trên thế giới từ lâu, có lẽ ở việt nam nó mới chỉ bắt đầu, dưới các phong trào mang tính bầy đàn như chụp ảnh, viết xã luận (của hot blogger), văn chương 8x,9x, nhạc v-pop. Tôi tự nhủ quan niệm của mình về nghệ thuật phi lợi nhuận, thậm chí phi công chúng cũng có thể phần nào xếp vào avant-garde.
(**): French new wave là một trào lưu điện ảnh những năm 50 và 60. Về nội dung, những phim của trào lưu này thường có nhiều yếu tố hiện sinh và một sự chấp nhận cái phi lý không thể tránh khỏi của cuộc đời con người. Về kỹ thuật (cinematic stylings), các đạo diễn thường sử dụng sáng tạo các kiểu lời dẫn chuyện; không quan tâm đến tình liền mạch của các đoạn phim, đưa ra những xâu chuỗi hình ảnh rời rạc, thay đổi nhanh chóng; mặt khác lại sử dụng những góc quay được giữ rất lâu bám theo đối tượng được quay; phát triển nhân vật không tuyến tính; luôn tìm cách nhắc khán giả nhớ là họ đang xem một bộ phim, một tác phẩm của con người chứ không phải một thực tại khác, ví dụ như trong Pierrot le fou, có lúc Pierrot đang lái xe tự nhiên quay lại nhìn vào màn hình nói vài câu bông đùa với khán giả.
(***): despair, từ được dùng nhiều trong film là một trong 3 keyword của triết học hiện sinh.
Nhãn:
beauties of this world,
Movie,
mywords
Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011
The everlasting questions (1)
Vì một sự nhầm lẫn mà tôi bắt đầu seri Ghost in the shell với Stand alone complex : Solid State Society, cái thực ra là tập cuối, phức tạp nhất trong cả ba. Kết quả là tôi phải xem lại một lần nữa mới hiểu hết được. May mà cả ba tập này đều đáng xem lại nhiều lần.
Trước tiên, Ghost in the shell (GitS) là một bộ phim science-fiction, nghĩa là khoa học viễn tưởng. Bối cảnh được đặt ra tương đối gần, vào khoảng 2030-2040. Từ nhỏ, tôi đã xem rất nhiều tiểu thuyết và phim của thể loại này, và tôi thực sự thích phong cách của GitS. Không giống như nhiều tác phẩm khác luôn đưa ra một thời điểm mà loài người đã phát triển vượt bậc đến nỗi vượt luôn cả khả năng tưởng tượng của ê kíp làm phim, khiến cho sự viễn tưởng nhiều khi mang đậm chất hàng mã thiếu chiều sâu, GitS đưa ra một thành phố khá giống các thành phố lớn của Nhật hiện nay : các tòa nhà cao tầng chứ không chọc trời, ô tô vẫn có cửa ngang và bốn bánh, các khu chợ vẫn hệt như bây giờ, với đèn neon và các kiot hàng hóa. Vẫn có các băng đảng yakuza và các nhân vật chính của chúng ta, một dạng cảnh sát đặc nhiệm, vẫn chỉ dùng súng lục, súng máy là chủ yếu.
Vậy cái gì là khác biệt trong thế giới đó ? Chỉ có một thứ : The Net, mạng toàn cầu. Trong thế giới của GitS, công nghệ thông tin đã thâm nhập vào mọi thứ, không chỉ sản xuất, buôn bán, giải trí như bây giờ mà cả vào con người. Bằng cách cấy ghép các bộ phận máy vào cơ thể, con người tự làm tăng khả năng lao động của mình. Với công nghệ nano-machine, máy móc cấp độ phân tử, não người được tăng tốc, trở thành cyber brain, và được kết nối trực tiếp vào mạng, có thể nhập và xuất thông tin trực tiếp từ mạng toàn cầu, hay The Net. Mặt khác, chính vì các hoạt động của não cũng là các hoạt động thông tin, nên nó có thể được ghi nhớ, tổng hợp, phân tích, lưu trữ, y hệt như đối với các chương trình và dữ liệu máy tính. Tập hợp tất cả các hoạt động đó được lưu vào một thứ gọi là Ghost (soul), thứ có thể load lên mạng hoặc tải xuống một Shell (body or cyberbody). Hai nhân vật chính, Kusanagi là một cô gái có cơ thể hoàn toàn là máy và Batou, người có cơ thể được cấy ghép và thay đổi nhiều đến nỗi khó coi cơ thể anh ta là của con người. Phần lớn những người khác đều có ít nhiều máy móc trong người, chỉ có một số rất ít, bảo thủ là từ chối các công nghệ. Trong cái tương lai số hóa này, ranh giới giữa người và máy là rất mỏng manh.
Trên bối cảnh đó, cốt truyện của phim thường là một vụ điều tra hình sự. Tình tiết vụ án phức tạp, gay cấn. GitS vẽ rất đẹp, ngay cả khi so sánh với các anime khác của Nhật, nhạc phim hay. Viễn tưởng của GitS hợp lý, hệ thống. Tất cả những điều đó đã là quá đủ cho một bộ phim hạng A.
GitS, theo tôi, vượt xa một bộ phim hạng A. Đấy là bởi vì tất cả những thứ trên, cái thế giới đã bị thông tin hóa đến thay đổi đến tận gốc rễ kể trên chỉ là phông nền, là bề nổi để các đạo diễn, một người một kiểu, khai triển những tư tưởng triết học của mình. Và chỉ sau khi suy ngẫm thật lâu, ta mới thấy sự gần gũi giữa những tư tưởng đó với bản thân, một mối liên hệ chặt chẽ mà lúc đầu ta không ngờ tới.
1."I feel confined" - Kusanagi the Major.
"Trong tất cả những thứ thuộc về tôi, cái gì là cốt tủy ?", "Điều gì làm nên tôi, với tư cách là một cá nhân, với tư cách là một con người ?" Tôi cá rằng nếu có các câu trả lời thực lòng từ tất cả mọi người, cái chuyện không thể có được, nhưng cứ giả sử là có đi, thì sẽ rất buồn cười. Câu trả lời thường gặp nhất hiện nay có thể, rất dễ dàng, là một cái xe ôtô, ít ra cũng phải là xe máy SH, hoặc một khuôn mặt đẹp, hoặc cặp vú to, hoặc dáng chuẩn và da đẹp, hoặc vài đám đất, tiền gửi ngân hàng. Hoặc đơn giản hơn, là không biết...
Hãy bỏ qua câu trả lời của số đông. Từ xa xưa, có những người đã hiểu cái thực sự làm nên cái tôi không phải là của cải, địa vị và danh tiếng. Và ngay cả diện mạo, thân thể. Cái đã và luôn luôn có giá trị nhất của cá nhân, vẫn là ý thức và cảm xúc. Trong Blade Runner, một bộ phim kinh điển, tương đối giống GitS, một điều đã được làm rõ : ngay cả thân xác cũng chỉ là bề nổi và có thể hoàn toàn không quan trọng. Ai người hơn, giữa một con người còn sống về mặt thân xác nhưng đần độn và suy đồi, còi cọc về mặt tinh thần, với một robot sinh học có vòng đời ngắn ngủi, được chế tạo để làm nô lệ, có thể chết bất cứ lúc nào, nhưng lại biết rung động sâu sắc trước cái đẹp và điều thiện ? Tất cả những ai xúc động trước cái chết của Roy đều hiểu câu trả lời. Hay như V trong V for Vendetta đã nói : "There is a face beneath this mask but it's not me. I'm no more that face than I am the muscles beneath it or the bones beneath them." Trong GitS, điều này trở nên mặc định, hàm chứa ngay ở khái niệm Ghost và Shell.
Trở lại với GitS 1, Kusanagi nói : "There are countless ingredients that make up the human body and mind. Like all the components that make up me as an individual with my own personality. Sure, I have a face and voice to distinguish myself from others, but my thoughts and memories are unique only to me, and I carry a sense of my own destiny. Each of those things are just a small part of it. I collect information to use in my own way. All of that blends to create a mixture that forms me and gives rise to my conscience.
I feel confined, only free to expand myself within boundaries."
I feel confined, too. Who doesn't ?
Trong quá trình trưởng thành, chắc hẳn nhiều người đã cảm thấy sự xung đột giữa cái tôi và diện mạo. Có gì khó chịu và oan ức bằng một diện mạo biểu hiện ra những tính cách trái ngược với cái tôi ? Cần phải có nhiều cố gắng mới có thể khiến một người khác có đánh giá đúng về mình, và đấy luôn luôn là một điều mệt mỏi. Mà ngoài kia, chỉ toàn là những người lạ, hời hợt lướt qua...
Diện mạo chỉ là một phần nhỏ của những giới hạn (boundaries). Đôi khi tôi cảm thấy căm ghét cơ thể mình và tất cả những bệnh tật, những nhu cầu, những ham muốn của nó. Giống như là Agnes của Kundera. Nó lấy đi của tôi quá nhiều thời gian, dựng lên quá nhiều rào cản. Nhục thể từ trước đến nay vẫn luôn là một giới hạn khó vượt qua. Micheal Houellebecq đã cố gắng giải quyết vấn đề này trong Hạt cơ bản, bằng công nghệ gene, với viễn tưởng loài người là loài đầu tiên trong chuỗi tiến hóa đã tự tiến hóa mình thành một loài khác, vô giới tính. Ý tưởng thì hay, nhưng kiến thức chuyên ngành kém nên tiểu thuyết của ông cũng khá hàng mã, dù đã cho vào vô số thuật ngữ. Ghost in the shell đưa ra một giải pháp khác, một dạng sống mới, thuần ý thức, có sức thuyết phục hơn nhiều. Tôi thực sự tin rằng đến một lúc nhất định, con người sẽ có thể đạt đến một trạng thái như thế.
Starcraft - one blooming flower of art
Khi tôi viết bài này, starcraft vẫn sống. Vì nhiều lý do mà tôi chưa viết tiếp phần 2 Art of mind. Không thể tin được là giờ đây nó đã chết. Đối với một người gắn bó với môn thể thao này, những năm tháng cuối của nó là một câu chuyện dài buồn bã. Sự phản bội của Savior, người được tất thảy mọi người yêu quý thậm chí cho đến tận hôm nay, bán tư cách của mình chỉ để lấy vài nghìn usd, lịch trình dày đặc của các giải hòng tối đa lợi nhuận, và cả sự xuất hiện của vô địch thủ Flash, tất cả đều góp phần tạo nên một kết cuộc không tránh khỏi. Starcraft 2 lên ngôi với đồ họa đẹp hơn, giao diện thân thiện hơn, những giải thưởng lớn hơn và tất nhiên là với gameplay nông cạn hơn nhiều.
Câu chuyện này có gì giống với truyện ngắn Hoa khói của tác giả người Nhật Komatsu Sakyo. "Nàng thiếu nữ dịu hiền đã hoàn tất nhiệm vụ được giao phó là dạy cho người Trái Đất nghệ thuật của hành tinh Phanpha. Nàng chẳng còn việc gì để làm nữa trên hành tinh xa lạ này. Nàng héo hon dần và cuối cùng đã lặng lẽ, thanh thản qua đời. Trước khi chết, trên khuôn mặt hờ hững, không chút biểu cảm của nàng xuất hiện một nụ cười bí ẩn." Xem thêm ở đây : http://www.nhatban.net/vhnb/a0013.html
(*)
1.Art of hands
Tôi luôn tự tin mình là người có thể cảm nhận được cái đẹp, thứ không nhất thiết xuất hiện trong các tác phẩm nghệ thuật. Có những tác phẩm nghệ thuật không hề có giá trị nghệ thuật (cái này ở việt nam thì nhiều lắm ) và cũng có những giá trị nghệ thuật xuất hiện ở những nơi bất ngờ nhất. Trong cái thời kỳ mà cái con quái vật bất khả chiến bại mang tên chủ nghĩa tư bản siêu tiêu thụ ở phong độ cực thịnh này, văn hóa đang ở trong một downtrend không có điểm dừng, không chỉ ở nước ta. Có những thứ một thời tôi đã rất ham mê như bóng đá nay không buồn để mắt đến, bởi tất cả những cuộc chạy đua về tiền bạc, quyền lực, sự tính toán bần tiện chi li dưới sức ảnh hưởng của vật chất đã giết chết tính nghệ thuật của nó, tôi còn nhớ đã chán ngán như thế nào khi xem World Cup được tổ chức ở Nhật và Hàn quốc, và sau đó chứng kiến Hy lạp lên ngôi vô địch châu Âu nhờ chiến thuật chữ U lật cánh đánh đầu tử thủ thắng 1-0. Và nghệ thuật của cờ Vua, môn thể thao mà tôi yêu thích từ thời thơ ấu đã giãy đành đạch và chết hẳn từ khi tất cả các kỳ thủ phải học thuộc lòng các biến thể đến tận nước thứ hai mươi... nhưng đó là một câu chuyện dài mà tôi sẽ kể vào lúc khác.
Thật may mắn, trong những năm gần đây tôi đã khám phá thế giới của Starcraft - Brood War.
Starcraft là gì ? Ban đầu đấy là một Real Time Strategy Game - trò chơi chiến thuật thời gian thực, sau đó nó phát triển thành một môn thể thao điện tử (e-sport). Sẽ là rất nông cạn khi liên hệ Starcraft với thể loại Game Online - vốn được làm ra để người ngu nhất cũng có thể chơi được và chơi thật lâu, vì thật ra chỉ cần ấn nút chuột trái liên tục. Thực chất Starcraft là một môn thể thao đối kháng, nếu bóng đá sử dụng quả bóng và sân cỏ, cầu lông sử dụng vợt, cầu và lưới thì môn thể thao Starcraft dùng trò chơi Starcraft, nơi mà người chơi chọn một trong ba đạo quân Terran, Protoss và Zerg, rồi điều khiển các đạo quân đó đấu với nhau. Hơn mười năm trước đây, môn thể thao Starcraft (từ đây chỉ gọi tắt là Starcraft) xuất hiện ở Hàn quốc và theo tôi, không hề là quá khi so sánh nó với vẻ đẹp của một bông hoa, bởi sự phát triển rực rỡ về mọi mặt, những trận đấu tinh tế và nghẹt thở có thời gian trung bình chỉ 15 phút, những chiến thuật mà người ngoài không thể hiểu nổi sự thâm sâu, những vinh quang ngắn ngủi của ngay cả những game thủ tài năng nhất. Tôi không có tham vọng viết một "Starcraft - history in a nut shell", bởi như thế hẳn sẽ thành một cuốn sách và không hợp với khuôn khổ một entry, ở đây chỉ nói về tính nghệ thuật của nó. Ai muốn tìm hiểu về Starcraft thì đây là một địa chỉ tuyệt vời www.teamliquid.net
Vậy thì Starcraft nghệ thuật ở chỗ nào ? Ai đã từng chơi nhạc cụ như guitar ắt phải biết tiếng tremolo của Recuerdos de la Alhambra, hoặc như piano thì là tiếng vê. Bằng cách sử dụng tất cả các ngón tay ở tốc độ cao, các âm đơn lẻ hòa quyện và tổ hợp thành những âm thanh giàu có, biến ảo. Có thể người chưa xem một trận đấu Starcraft nào sẽ khó tin, nhưng tốc độ các ngón tay của các game thủ hàng đầu không hề chậm hơn thế, và tất nhiên là không học thuộc lòng trước. Ai đã từng chơi cờ Vua sẽ biết cái gấp rút khi phải đưa ra một quyết định trong một tình thế khó khăn mà lại hết thời gian, game thủ Starcraft phải nhìn, nhận định và thực hiện, tất cả chỉ trong một chớp mắt. Trải qua mười năm phát triển, các kỷ lục luôn bị phá vỡ, các tiêu chuẩn luôn được đặt lại và hiện nay, phần lớn các game thủ hàng đầu đều sở hữu một mechanic (kỹ năng thể chất - để phân biệt với game sense - kỹ năng cảm giác) vượt xa kỹ năng của người thường. Ví dụ như tốc độ sử dụng ngón tay - một phần của mechanic của các game thủ hàng đầu là gần 400 apm (action per minute) nghĩa là họ thực hiện hơn 6 thao tác trong 1 giây, tôi nghĩ rằng nhanh hơn tremolo. Người ta đã nghiên cứu và cho thấy ở các game thủ, một phần nhất định của não phát triển to hơn người thường cùng độ tuổi, đấy là lý do game thủ phải được đào tạo từ khi còn nhỏ và cũng không ai có thể chơi tốt khi đã quá tuổi 22. Mặt khác, kỹ năng quan trọng nhất của mechanic, multitasking - khả năng làm rất nhiều việc cùng một lúc lại làm não bộ dần tổn thương, dẫn đến sự suy giảm của chính khả năng này theo thời gian. Điều đó lý giải tất cả các game thủ tài giỏi nhất đều không thể ở đỉnh cao quá một hoặc cùng lắm là hai năm, đều giống như những bông hoa rực rỡ nhưng chóng tàn và không bao giờ nở lại, dù người hâm mộ thì luôn hy vọng như thế và nhớ đến họ với những cảm giác tiếc nuối.
Starcraft được như ngày nay, với 3 kênh truyền hình và mức lương trung bình cỡ 100k$ cho game thủ, không thể không nhắc đến người khai sáng ra nó : Boxer 'Slayer'. Anh cũng như Micheal Jordan của bóng rổ hoặc Muhammed Ali của đấm bốc vậy. Khi mới ra đời, Starcraft còn gần như là một trò chơi ít được chú ý, Boxer gần như một mình đã đưa ra khái niệm "micro" - khả năng điều khiển khéo léo để một đạo quân nhỏ thắng được một đạo quân có sức mạnh lớn hơn nhiều. "Micro" làm các trận đấu của Boxer đẹp đến nỗi cả một thế hệ người trẻ tuổi của Hàn quốc nói riêng và thế giới nói chung chơi Starcraft, và nhờ thế mà Starcraft nổi như cồn. Bản thân tôi cũng không nhớ nổi bao nhiêu lần tôi đã há hốc mồm kinh ngạc và tự hỏi tại sao mình chưa bao giờ nghĩ đến cái đó chứ đừng nói làm được như thế. Starcraft chính là một môn nghệ thuật thủ công vô cùng tinh tế với sức sáng tạo dồi dào, dù sản phẩm của nó thường chỉ là một thời khắc vô cùng ngắn ngủi.
Ví dụ như Pimpest plays 2002-2004 (mặc dù ai chưa có kinh nghiệm sẽ không hiểu được nó tuyệt vời ở chỗ nào). Xem thêm ở đây Starcraft Legacy
Chú thích :
(*): Boxer dùng 7 ghost khóa 7 Battlecruiser của đối thủ trong vòng 1 giây, số thao tác tối thiểu để làm điều đó là 21, chưa tính đến việc dùng chuột.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)